<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>Déjà vous &#187; WWII</title>
	<atom:link href="http://dejavous.net/tag/wwii/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://dejavous.net</link>
	<description>A Twist On Déjà Vu</description>
	<lastBuildDate>Fri, 01 Jun 2012 09:45:18 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='dejavous.net' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://s2.wp.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>Déjà vous &#187; WWII</title>
		<link>http://dejavous.net</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://dejavous.net/osd.xml" title="Déjà vous" />
	<atom:link rel='hub' href='http://dejavous.net/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Hồi Ức Lính Xô Viết trong Chiến Dịch Mãn Châu 1945</title>
		<link>http://dejavous.net/2009/12/19/manchurian-campaign-1945/</link>
		<comments>http://dejavous.net/2009/12/19/manchurian-campaign-1945/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Dec 2009 10:16:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>javous308</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch khác]]></category>
		<category><![CDATA[Liên Xô]]></category>
		<category><![CDATA[Mãn Châu]]></category>
		<category><![CDATA[WWII]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://dejavous.net/?p=1169</guid>
		<description><![CDATA[Năm 2004, bên box Kĩ thuật quân sự nước ngoài &#8211; TTVNOL có một topic rất hay dài đến hơn 100 trang về hồi ức của lính Hồng quân Liên xô trong WW2. Các hồi ức ban đầu được anh Lý Thế Dân dịch từ tiếng Anh ở trang này. Bây giờ không còn tìm &#8230; <a href="http://dejavous.net/2009/12/19/manchurian-campaign-1945/">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a><img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1169&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Năm 2004, bên box Kĩ thuật quân sự nước ngoài &#8211; TTVNOL có một topic rất hay dài đến hơn 100 trang về hồi ức của lính Hồng quân Liên xô trong WW2. Các hồi ức ban đầu được anh Lý Thế Dân dịch từ tiếng Anh ở <a href="http://www.battlefield.ru/">trang này</a>. Bây giờ không còn tìm thấy link bên TTVN, chỉ còn <a href="http://www.langven.com/forum/index.php?showtopic=3267">link này</a>. Tập hồi ức được in thành sách năm 2007 có tên “Kí ức chiến tranh” (NXB Văn hóa Sài Gòn). Tớ cũng có dịch một số hồi ức của lính Xô Viết trong chiến dịch Mãn Châu 1945 (ngoài cuốn sách), từ<a href="http://www.armchairgeneral.com/forums/showthread.php?t=36090"> trang này</a>. Do cách đây khá lâu nên hiện chỉ còn tìm thấy vài phần.<span id="more-1169"></span></p>
<p><strong>Grigorii Kalachev &#8211; Lính trinh sát</strong></p>
<p>Tôi nhớ rất rõ cái đêm ngày mùng 8 và 9 tháng Tám. Chúng tôi, những lính trinh sát, nhận được lệnh phải băng qua biên giới, xác định những ụ hỏa lực địch và bắt sống một tù binh nếu có thể. Trước đó chúng tôi đã bí mật nhiều ngày quan sát quân địch. Lính tuần tra Nhật Bản vẫn đi tuần dọc theo đường biên giới, chúng có cả các đồn biên phòng và đài quan sát. Thế nhưng khi chúng tôi bắt đầu tấn công vào tối mùng 9 tháng 8 thì không gặp bất kì sự kháng cự nào. Vài giờ đồng hồ sau chúng tôi mới gặp toán lính tuần tra, lúc đó đã vào buổi sáng. Cuộc chám trán đáng gờm đầu tiên là khi chúng tôi vào lãnh thổ Nhật Bản 120 km. Quân Nhật dần lấy lại tỉnh táo ở mức độ nào đó và gửi một trường hạ sĩ quan chặn chúng tôi lại, như là đơn vị dự bị sau cùng của chúng. Mọi thứ không như chúng tôi mong đợi và thực sự bất ngờ. Ít ra là khi đó, sức kháng cự của mũi chúng tôi thấp hơn nhiều so với mũi của quân đoàn 36, đơn vị tấn công quân tiếp viện vùng Khalun-Arshan, hay đơn vị số 1 mặt trận Viễn Đông, nơi mà bọn &#8220;samurai&#8221; (quân Liên Xô gọi lính Nhật là những &#8220;samurai&#8221;) quyết bảo vệ thành phố Mudantsian cho đến người cuối cùng. Nhưng đối với chúng tôi kẻ thù số một không phải lính Nhật mà là thời tiết. Một lực lượng không lớn lính Nhật bảo vệ dãy Đại Khingan, có khả năng chống chọi vũ khí hạng nặng, quyết không để bị chiếm lĩnh.</p>
<p>Thật ra mà nói, cả thời tiết lẫn địa hình đều chống lại chúng tôi. Quân lính phải tiến công 500 km qua vùng bán sa mạc khô cằn và vượt qua một ngọn núi lớn mà không thấy bóng dáng một con đường hay làng mạc nào cả. Anh tin hay không cũng được, nhưng vũ khí của chúng tôi tốt hơn của phương Tây. Về xe tăng thì không nói làm gì. Không kể đến loại T-34 vốn đã quá nổi trội, mà ngay cả những chiếc BT trước kia vốn được xem là cũ. Những chiếc BT đã không được sử dụng ở mặt trận Xô-Đức trong thời gian dài, nhưng các đơn vị Viễn Đông vẫn còn sử dụng, và chúng vẫn chạy rất tốt : tốc độ, thao tác đơn giản và đáng tin cậy. Ở trong điều kiện sa mạc và đồi núi, các phương tiện của Liên Xô vẫn vượt trội so với của phương Tây ở một vài điểm. Những chiếc Studebeckers và Dodges chiếm số lượng lớn trong các đơn vị của chúng tôi là những loại xe tải tuyệt vời, nhưng vẫn mắc vài khuyết điểm. Thùng xe quá rộng nên không thể chạy qua những con đường hẹp ở hẻm núi. Thêm nữa, khi ở dãy Grand Khingan với độ cao 2000 mét so với mực nước biển, xe tải của Mỹ hay bị nguội máy và nhiều khi bị điếc đặc ở trên núi. Xe của chúng tôi thì không bị chết máy. Nhưng lính bộ và lính bộ cơ giới, tất nhiên, vẫn thường phải đẩy và kéo xe.</p>
<p>Tình thế trở nên thật sự khó khăn khi mưa đến. Mà ở Mãn Châu, tháng tám lại là mùa mưa. Chúng tôi chưa từng thấy điều này ở Nga: trời mưa cả ngày lẫn đêm và kéo dài suốt nhiều tuần lễ. Một khi hết mưa, không khí trở nên rất ẩm và như muốn bóp nghẹt chúng tôi. Tất cả những con đường đều trở nên bùn lầy. Bùn lấm vào chân chúng tôi đến tận đầu gối. Đường rất trơn và chúng tôi băng xuống dãy Grand Khingan như trên đường trợt băng. Và bọn &#8220;samurai&#8221; bắt đầu phục kích chúng tôi. Khó khăn vô cùng ! Nhưng khi chúng tôi vượt qua những con đường của dãy Grand Khingan và nổ súng về phía đồng bằng Mãn Châu thì coi như đã hoàn thành mục tiêu : chúng tôi đã bỏ xa quân Nhật phía sau. Quân Nhật không nghĩ rằng chúng tôi đã có mặt ở đó. Chúng không nghĩ chúng tôi lại nhanh đến vậy và chúng không thể làm được gì khác. Lúc đó không gì có thể cản chúng tôi lại. Những gì quân Nhật nói bây giờ (tức thời điểm hiện nay &#8211; chú thích của Andrey) là bọn họ đầu hàng một cách cưỡng bức và không tự nguyện. Thực ra thì nếu hoàng thân Mikado của họ không ra lệnh đầu hàng, thậm chí lệnh cho các thần dân chiến đấu đến binh sĩ cuối cùng thì sự kháng cự của họ cũng không thể thay đổi điều gì. Quân đội Kwantung vẫn sụp đổ.</p>
<p>Chúng tôi kết thúc chiến tranh ở Porth Arthur. Thật không ngờ, quân lính đã chiến đấu hăm hở đến thế, chúng tôi muốn dạy cho bọn &#8220;samurai&#8221; bài học về thất bại của chúng tôi trong cuộc chiến Nga-Nhật lần thứ nhất (năm 1904-1905 Porth Arthur là một căn cứ hải quân hùng mạnh của hải quân Nga, đồng thời là một pháo đài. Cuộc chiến bắt đầu sau khi quân Nhật bất ngờ tấn công một tàu Nga trong đêm đậu ở Porth Arthur, tương tự như trận Trân Châu Cảng. Porth Arthur bị bao vây bởi quân Nhật và đầu hàng sau thời gian dài bị vây hãm. &#8211; chú thích của Andrey). Tôi nhớ đã từng đọc cuốn Porth Arthur rất nhiều lần (Porth Arthur là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga Stepanov về cuộc vây hãm Porth Arthur- chú thích của Andrey) khi đang đi xe lửa ở Viễn Đông. Mà các phương tiện truyền thông quân đội cũng nhắc nhiều về nó nữa. Chính trị viên của chúng tôi nhắc đi nhắc lại sau đó, ngay cả trong cuộc tiến công, rằng chiến dịch của chúng tôi là đúng đắn, rằng đó là sự trừng phạt đích đáng cho những tội ác của quân Nhật trước kia, rằng công bằng lịch sử phải được lặp lại. Stalin cũng phát biểu trong tuyên bố thắng trận của ông : Chúng ta đã đè bẹp quân phiệt Nhật và rửa sạch được nỗi ô nhục đen tối trong tâm tưởng của chúng ta.</p>
<p>Riêng tôi cũng có lý do riêng để giành chiến thắng trước quân Nhật, đúng hơn là lý do gia đình. Bốn mươi năm trước khi ông nội tôi chiến đấu ở Porth Arthur và tôi còn là một cậu bé, ông thường kể tôi nghe về cuộc chiến. Làm thế nào lính Nga đánh bại được bọn Nhật, đó là một chiến công, và làm thế nào tướng Tsaras lại phản bội họ và dâng pháo đài cho quân thù. Và khi chúng tôi ở cuối tháng tám năm 1945, trở lại Porth Arthur nơi ông nội tôi từng chiến đấu và gục ngã trước kia thì điều đầu tiên là chúng tôi kính cẩn cúi mình trước nghĩa trang của lính Nga.</p>
<p>Chúng tôi đến nơi mà trận chiến xảy ra nhiều năm về trước và có thể tìm thấy những thùng đạn đã úa màu theo thời gian cùng những mảnh áo choàng còn lem vết máu.</p>
<p>Đại tướng Vasilevskii lệnh cho chúng tôi đặt những vòng hoa để thể hiện lòng tôn kính, sau khi chúng tôi giành thắng lợi.</p>
<p><strong>Aleksandr Zhelvakov</strong> (Chính trị viên tập đoàn quân xe tăng số 6)</p>
<p>Tháng 7 năm 1945, tập đoàn quân xe tăng chúng tôi được chuyển từ Czechoslovakia đến Mông Cổ, giáp ranh với vùng Manchu-Oko, nơi chính quyền bù nhìn đượclập ra và cai trị bởi quân phiệt Nhật.</p>
<p>Tối mùng 9 tháng 8, lúc 01:05, chúng tôi băng qua biên giới và bắt đầu thâm nhập vào Mãn Châu.</p>
<p>Tình hình vô cùng khó khăn suốt cuộc tiến công. Khi băng qua sa mạc, trời rất nóng. Nhiệt độ lên đến 40 độ C hoặc cao hơn. Vùng đất hoàn toàn khô hạn, đâu đâu cũng có bụi. Có cả bão cát nữa. Sau đó chúng tôi phải băng qua ngọn Grand Khingan. Sườn núi rất dốc nên gây nhiều khó khăn và nguy hiểm. Ngay khi chúng tôi vào đến Mãn Châu, bắt đầu xuất hiện những trận mưa như trút nước nhiều ngày liền. Bùn dày ở khắp nơi, và hơn thế nữa, nước sông tràn cả vào bờ làm ngập mọi thứ. Lính tăng chúng tôi phải di chuyển từ Tunliao đến Mukden theo đường xe lửa trên bờ đê cao. Đó là con đường độc đạo, kể cả với xe tăng. Những lối khác thì chỉ còn nước bơi.</p>
<p>Điều đáng nói là chúng tôi không chỉ vượt qua trở ngại về thiên nhiên và thời tiết mà cả sự chống trả của quân Nhật, lúc đó vẫn chưa đầu hàng.</p>
<p>Trong điều kiện như vậy, quan trọng đáng kể là chúng tôi đã đổ bộ vào những vùng của quân Nhật ở Mukden, Chanchun, Porth Arthur, Lalnii, Kharbin, Girin, kéo theo sự đầu hàng nhanh chóng của quân đội Kwantung.</p>
<p>Đội quân đổ bộ của chúng tôi lên Mukden đã bắt được Pu I, kẻ đứng đầu Manchu-Oko. Hắn được gửi về Liên Xô ngay sáng hôm sau. Tôi là người phụ trách đội quân của hắn. Sau khi kết thúc chiến dịch tôi được cử làm Bí thư Chi bộ của tiểu đoàn thuộc đội quân đổ bộ vùng Mukden.</p>
<p>Tôi nhớ có một lần. Khi chúng tôi ở Mukden, trung sĩ Ivan Zagorulko là chỉ huy tiểu đội súng tiểu liên. Anh ta kể rằng ông nội của anh ấy đã hy sinh trong chiến tranh Nga &#8211; Nhật lần thứ nhất. Điều đáng buồn là khi đó quân đội chúng tôi đã thua ở trận Mukden. Và lúc này khi viếng thăm nghĩa trang địa phương, chúng tôi nhận ra mộ của những người lính của trung đoàn Turkestan số 1, đơn vị của ông nội Ivan. Bốn mươi năm sau cái chết của ông, người cháu, nay trong cương vị là kẻ chiến thắng, đang cúi đầu tôn kính trước ngôi mộ của ông.</p>
<p><strong>Ivan Kazintsev &#8211; Lính công binh</strong></p>
<p>Cuộc chiến với quân Nhật bắt đầu trong điều kiện trời tối mù và mưa như trút nước. Tối đó, mọi thứ đếu ướt sũng dù có ở trong phòng chăng nữa, còn chúng tôi thì đang ở chiến trường và cũng không có gì để che.</p>
<p>Có một trận bão lớn trong đêm ngày 8 đến 9 tháng 8 năm 1945 nhưng quân lính được lệnh phải băng qua biên giới. Tôi chưa từng gặp cơn dông nào dữ dội đến vậy. Sấm chớp là một trở ngại: trước tiên nó làm chúng tôi chói mắt, không thể thấy gì và bị mất phương hướng một vài giây sau đó; thứ hai là nó soi rõ vị trí của chúng tôi còn hơn đèn pha của địch. Dĩ nhiên, quân Nhật cũng bị chớp làm chói mắt nhưng họ rành địa hình và không phải di chuyển đi đâu hết. Có lính Nhật trong những ụ công sự trên ngọn đồi và chúng tôi dược lệnh chiếm ngọn đồi đó. Sáng hôm sau, chúng tôi đã chiếm lĩnh được nó.</p>
<p>Ngày hôm đó chúng tôi di chuyển 80-90 km trên xe tăng và đến căn cứ quân sự Siao-Sun-Fynhe vào buổi tối. Tại đó chúng tôi giao chiến với một toán quân địa phương Nhật.</p>
<p>Trận chiến dữ dội và kéo dài, rất nhiều trận phải xáp lá cà. Đánh xáp lá cà thì nhanh chóng nhưng có điều, phải giải quyết liên tục từng tên một và cứ thế, kéo dài khá lâu. Tuy nhiên bọn Nhật đã rút lui, mặc dù chúng chống cự rất quyết liệt. Trung sĩ Kauzov trong trung đội của tôi bị thương rất nặng trong trận này. Anh ta bị 8 vết dao đâm nhưng vẫn sống sót.<br />
Một trận đánh lớn khác xảy ra gần căn cứ Madaoshi. Sau đó chúng tôi mới nhận tin báo rằng căn cứ này được bảo vệ bởi một vài tiểu đoàn lính Nhật quyết tử chứ không đầu hàng. Trận chiến kéo dài một ngày trời. Lính Nhật đặc biệt là pháo binh, chiếm giữ một vị trí rất lợi thế. Một phát đại bác bắn ngay bên hông chúng tôi. Còn bón lính quyết tử thì ở ngay phía trước. Lính Nhật bắn hạ 8 chiếc tăng của chúng tôi. Tối hôm đó tiểu đoàn chúng tôi bí mật di chuyển qua Madaoshi, tiến sâu phía ngoài bọn chúng, chờ một trận đánh quyết định. Sáng hôm sau, trận đánh tiếp tục nhưng cuối cùng quân Nhật đã bị đánh bật khỏi vị trí sau 3 giờ giao tranh. Cậu lính Fedotov của tôi bị hy sinh, trung sĩ Burin thì bị thương.</p>
<p>Người Trung Quốc tiếp đón chúng tôi rất nhiệt tình, một vài lần họ chỉ cả nơi quân Nhật ẩn nấp. Khi gặp những người dân Trung Quốc, chúng tôi thật sự bất ngờ vì họ rất nghèo và sợ hãi trước quân Nhật. Dân địa phương đến chỗ chúng tôi trong lúc nghỉ chân và chúng tôi cũng đối xử với họ như khách quý.</p>
<p><strong>Oleg Smirnov, sĩ quan viết báo của Sư đoàn</strong></p>
<p>Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại kết thúc với sư đoàn chúng tôi ở phía Đông Prussia. Trận chiến ở đó vô cùng khốc liệt. Mọi thứ đều bị đốt cháy trong trận đột kích vào Kenigsburg, tất cả bị thiêu rụi, kể cả những bức tường gạch, những con đường, côn sự bằng bê tông. Dù sao chúng tôi cũng chiếm được pháo đài của thành phố.</p>
<p>Tôi còn nhớ rõ ngày 9 tháng 5, khi hay tin quân Đức đầu hàng, chúng tôi hân hoan uống mừng trên nấm mộ của những người đồng chí đã hy sinh. Tôi rút cây TT ra khỏi bao, bắn chỉ thiên và tự nhủ : &#8220;Đây là phát súng cuối cùng của mình.&#8221;<br />
Nhưng tôi không thể cưỡng lại định mệnh trớ trêu &#8230;</p>
<p>Bắt đầu tháng 6, chúng tôi đi trên xe lửa để di chuyển tới Viễn Đông.</p>
<p>Suốt chuyến đi, tôi được nghe nhiều chuyện của quân lính. Hầu hết với họ đều nhất trí rằng chúng tôi, dĩ nhiên, sẽ đánh bại bọn &#8220;samurai&#8221;. Họ lại nhắc đến Porth Arthur và Tsushima, những vùng Viễn Đông mà quân đội Nhật chiếm đóng trong cuộc nội chiến, rồi Khasan và Khalkhin Gol. Họ tranh cãi về mức độ của cuộc chiến sắp tới, nhanh gọn hay dai dẳng. Cuối cùng đi đến quyết định rằng chúng tôi sẽ nghiền nát bọn samurai sâu bọ ra cám chỉ trong 4 tuần lễ. Điều họ tiên đoán cũng thành sự thật. Tôi còn nhớ lúc ấy tôi có suy nghĩ (và chắc không phải mình tôi nghĩ như vậy) : thật là lãng nhách nếu mình đã thoát chết trong một cuộc chiến khốc liệt mà lại bỏ mạng ở nơi đây &#8230;</p>
<p>Khi ở Trung Quốc, tôi còn lưu lại ký ức về một công nhân đường sắt. Tôi nói chuyện với anh ta tại một ga xe lửa. Tôi mời một điếu thuốc và anh ấy nói: &#8220;Thật là một cuộc chiến khốc liệt ở phía Đông ! Tình hình trở nên tồi tệ với đội quân samurai. Đám quân đào ngũ kia có linh tính đúng đấy. Ở Chita, ngày nào người ta cũng ngồi đếm toa tàu chở những toán lính. Điều đó chẳng có nghĩa lý gì vì đằng nào bọn chúng cũng thua.&#8221;</p>
<p>Cuối cùng chúng tôi băng qua biên giới Liên Xô-Mông Cổ trong những ngày cuối tháng Sáu và chuyển đến vùng baian-Tumen.</p>
<p>Sau đó sư đoàn chúng tôi hành quân đến biên giới Mãn Châu. Chúng tôi phải lội bộ khoảng 400 km. Mặc dù từng trải qua nhiều trận đánh trong đời, nhưng tôi chưa bao giờ thấy một đội quân lính tráng và quân trang hùng hậu đến vậy. Từng toa tàu chở lính nối đuôi nhau. Từng đội quân di chuyển ồ ạt và hàng nối hàng. Một vùng thảo nguyên bỗng trở nên cơ man là quân. Hàng trăm chiếc xe tăng gầm rống nối đuôi nhau. Chúng còn mới cóong, từ nhà máy Ural nhưng tổ lái đều là những tay lính dày dặn trận mạc trên mặt trận châu Âu. Tiếp đó là những đại đội kéo theo những khẩu pháo lớn, rồi tới những đoàn xe tải bụi mù trời. Theo sau là pháo binh, những chiếc Kachiusa, rồi lại đến bộ binh. Thật không ngờ bao nhiêu lính tráng lại tập trung về đây. Trên bầu trời cũng cơ man là máy bay. Chúng quần đảo trên đầu chúng tôi, cả máy bay tiêm kích, ném bom, cường kích, máy bay vận chuyển.</p>
<p>Cả một vùng sặc mùi xăng và dầu diesel, át cả mùi cỏ cây. Từng đám bụi màu nâu bay mù mịt, bám đầy vào mặt quân lính, nghe cả tiếng lạo xạo trong răng. Trời nóng khủng khiếp, nhiệt độ là 40 độ C, thậm chí còn hơn. Mồ hôi vã xuống mắt, cổ họng khô ran nhưng chúng tôi chỉ được một chai nước một ngày. Xung quanh hoàn toàn không có nước; đúng ra là bán hoang mạc và đất mặn. Chúng tôi gặp chiếc hồ đầu tiên trên đường đi là một hồ nước mặn. Cái khát ám ảnh chúng tôi một thời gian dài. Chúng tôi có cảm giác như đang di chuyển trên một vùng đất trũng khô cằn đỏ lửa. Ngay cả muốn nghỉ mệt chúng tôi cũng không thể ngả lưng xuống đất vì mặt đất nóng đến nỗi muốn thiêu rụi mọi thứ. Mặt đất nóng, và bầu trời cũng vậy. Gió không làm mát hơn mà chỉ thổi đến sự oi bức, không khác gì một cái lò đốt. Gió thổi tung bụi mù, cát, đá găm như đốt cháy buồng phổi mỗi khi thở. Họ gọi đó là &#8220;Gió Gôbi&#8221; bởi nó thổi từ phía Tây Nam, từ sa mạc Gôbi.<br />
Chúng tôi mất khoảng 1 tuần đến biên giới, đi cả ngày lẫn đêm. Trừ những lần nghỉ ngắn ngủi, mọi người chỉ ngủ khoảng 3-4 tiếng một ngày. Vì vậy đến cuối cuộc hành quân, chúng tôi mệt đến nỗi chỉ muốn gục xuống, và bắt đầu ngủ gật trong khi đi. Ban đêm, cả vùng thảo nguyên huyên náo với tiếng động cơ xe tăng và xe tải, cùng những luồng đèn pha của xe và máy bay. Nhưng những tiếng ầm ĩ hỗn loạn đó cũng không ngăn được tiếng bước chân của những người lính. Gió cát ở khắp mọi lúc, mọi nơi; trong khóe mắt, thức ăn, nước uống. Người nào may mắn thì có cái gà mèn (cặp lồng) thu được của lính Đức vì có nắp đậy. Cái gà mèn của chúng tôi thì tròn và hở, nên phải đậy bằng mũ vải, tờ báo hay bằng tay nhưng dù cách nào đi nữa thì thức ăn vẫn có lẫn cát. Tuy nhiên thời tiết nóng khủng khiếp khiến chúng tôi không muốn ăn, không muốn cả hút thuốc, mà chỉ muốn duy nhất một thứ, đó là uống nước ! Mọi người há hốc miệng ra vì khát nước. Nước chỉ được cấp phát theo tiêu chuẩn. Sĩ quan cao cấp có đủ mọi quyền lợi. Những cuộc hành quân không ngừng nghỉ kéo dài cả ngày lẫn đêm. Cuối cùng, khi đến được vùng biên giới, chúng tôi đuối thật sự và ngủ cả một ngày một đêm.</p>
<p>Ngay ngày hôm sau chúng tôi nhận lệnh đào công sự. Chúng tôi đào hầu như mọi thứ xung quanh: hào chiến đấu, hầm sĩ quan, mô đất che chắn quân trang. Quân lính bắt đầu cằn nhằn: &#8220;Tại sao chúng ta lại phải đào như vậy? Không phải quân ta chuẩn bị tiến công sao?&#8221; Ngay lập tức những sĩ quan bị triệu tập tại sở chỉ huy và bị chỉ trích vì sớm nói với quân lính kế hoạch sắp tới. Quân lính được lệnh chấm dứt bàn luận về việc tiến công. Các tờ báo của quân đội viết về việc phòng thủ. Tôi không biết về đội quân &#8220;samurai&#8221; nhưng chúng tôi đã không thất vọng.</p>
<p>&#8230;.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/javous308.wordpress.com/1169/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/javous308.wordpress.com/1169/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1169&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://dejavous.net/2009/12/19/manchurian-campaign-1945/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/1eacb9d519b56ba084cc543239479cc9?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">javous308</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Những Nữ Anh Hùng Liên Xô trong WWII (2)</title>
		<link>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr-2/</link>
		<comments>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr-2/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Nov 2009 23:55:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>javous308</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch khác]]></category>
		<category><![CDATA[Liên Xô]]></category>
		<category><![CDATA[WWII]]></category>
		<category><![CDATA[Yakolevna Fomicheva]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://dejavous.net/?p=1130</guid>
		<description><![CDATA[Galina Ivanovna Dzhunkovskaya Galina Dzhunkovskaya sinh ra trong một ngôi làng tại Kiev &#8211; Ukraine, cha cô là nông dân. Năm 1938, cô chuyển đến Grozny ở vùng Chechen-Ingush để học về ngành thuốc. Sau đó, cô đến Moskva để học về cơ khí hàng không vì thấy phù hợp với mình hơn. Chiến tranh &#8230; <a href="http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr-2/">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a><img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1130&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Galina Ivanovna Dzhunkovskaya</strong></p>
<p>Galina Dzhunkovskaya sinh ra trong một ngôi làng tại Kiev &#8211; Ukraine, cha cô là nông dân. Năm 1938, cô chuyển đến Grozny ở vùng Chechen-Ingush để học về ngành thuốc. Sau đó, cô đến Moskva để học về cơ khí hàng không vì thấy phù hợp với mình hơn.</p>
<p>Chiến tranh nổ ra, Dzhunkovskaya tình nguyện làm ý tá và tham gia bảo vệ thành phố cùng với các bạn học của trường Đào tạo Hàng không Moskva. Nhưng cô không thích việc đào công sự mà muốn trực tiếp tham gia chiến đấu. Hưởng ứng lời kêu gọi của Marina Raskova huy động các nữ sĩ quan tình nguyện gia nhập phi đòan của mình, cô gái trẻ ngay lập tức tham gia không chút đắn đo. Cô được huấn luyện thành phi công tại Engels gần Stalingrad, và được gửi điều tới Phi đoàn máy bay ném bom bổ nhào 587 mới được thành lập. Đơn vị này phụ trách máy bay ném bom hạng trung Petlyakov Pe-2, có hai động cơ và bay nhanh.<span id="more-1130"></span></p>
<p>Phi đoàn 587 ban đầu được chỉ huy bởi Marina Raskova, nhưng cô bị hy sinh trong tai nạn máy bay năm 1943. Maj Valentin Markov trở thành người kế nhiệm, một vị trí mà ban đầu anh cho là đáng ê mặt. Tình hình càng tồi tệ hơn khi các nữ phi công không tuân lệnh người chỉ huy mới. Không muốn mình bị hạ thấp, Markov ngày càng trở nên nghiêm khắt và gắt gỏng. Anh được họ gán một biệt danh là &#8220;Lưỡi lê&#8221;.</p>
<p>Khi nhận ra tài năng của các nữ chiến sĩ, thái độ của Maj Markov thay đổi hẳn. Anh trở nên mềm mỏng hơn, đặc biệt là với Dzhunkovskaya, cô gái mà anh yêu. Và Dzhunkovskaya cũng dần nhận ra và chấp nhận tình cảm của anh, gọi anh bằng cái tên thân mật &#8220;Bố&#8221; (Daddy).</p>
<p>Người chỉ huy phải lái máy bay thả bom và cần người phi công giỏi nhất của phi đoàn đi cùng mình hỗ trợ; lại không ai khác ngoài Dzhunkovskaya. Do vị trí của mình, dù muốn, Maj Markov không thể có sự ưu tiên đối với phụ nữ, kể cả các nữ phi công của mình. Chàng trai đành chấp hành kỷ luật cấp trên mà chưa kịp thổ lộ tình yêu.</p>
<p>Trong thời gian đó, Kzhunkovskaya như phải đối mặt với cái chết. Máy bay của cô bị chặn bởi tiêm kích Đức và một cuộc đọ súng khốc liệt đã diễn ra. Khi chiếc Pe-2 vừa kết thúc làn đạn súng máy của mình, hai chiến đấu cơ địch đã nhào tới hòng tiêu diệt. Cô nhanh chóng chộp lấy khẩu súng bắn pháo tín hiệu, phát một quả pháo sáng qua khe cửa mở. Quả pháo phát nổ và ánh chớp lóe lên khiến 2 gã phi công địch nhầm tưởng chiếc máy bay đã phát nổ trong khôn</p>
<p>Mùa thu năm 1944, Dzhunkovskaya thành lập phi đội số 2 cùng với Klavdiya Fomicheva. Trong chiến dịch đầu tiên cùng nhau ở Belorussia, máy bay bị bắn bởi súng phòng không và động cơ bốc cháy. Họ cố gắng quay trở về, nhưng máy bay bị bốc cháy ở độ cao 150m. Người ta trông thấy máy bay lao xuống và tin rằng các cô gái đã hy sinh.</p>
<p>Hai phi công đều bị thương, còn Dzhunkovskaya bị bỏng ở vùng mặt. Máy liên lạc vô tuyến đã bị hỏng khi máy bay rơi. Cuối cùng họ được cũng cứu, đưa đi chữa trị và trở về hàng ngũ. 5 ngày sau đó, khi máy bay vận tải đưa Fomicheva và Dzhunkovskaya, người ta thấy Maj Markov chồm đến và đưa hai cô gái ra.</p>
<p>Tính đến háng 12 năm 1944, Dzhunkovskaya đã hoàn thành 62 nhiệm vụ bay, tham gia 5 trận chiến trên không và 2 lần bị máy bay địch bắn hạ. Ngay sau chiến tranh kết thúc, Dzhunkovskaya đã lập gia đình với thủ trưởng của cô, Valentin Markov, điều mà các nữ đồng nghiệp của cô đều đã đoán trước. Ngày 18-8-1945, cô được phong Anh hùng Liên Xô (HSU &#8211; Hero of the Soviet Union).</p>
<p>Bà tiếp tục phục vụ cho quân đội Soviet Viễn Đông và về hưu sớm năm 1950 do sức khỏe giảm sút và hậu quả những vết thương thời chiến. Sau đó, Dzhunkovskaya và Markov cùng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Kirovgrad và trở thành giáo viên Tiếng Anh. Bà mất ngày 12-9-1985.</p>
<p><strong>Klavdiya Yakolevna Fomicheva</strong></p>
<p>Klava Fomicheva là nữ phi công ném bom xuất sắc nhất trong Chiến tranh Vệ quốc. Cô sinh ra tại Moskva nhưng trải qua tuổi thơ ở vùng quê Znamenka, Lipetsk. Gia đình cô rơi vào cơ cực sau khi cha và anh cả mất. Cô học hết cấp hai và đến Moskva tập sự làm trông nom sách ở kho lưu giữ. Trong khoảng thời gian đó, với số tiền nhờ tập sự, cô tham gia và hỗ trợ một câu lạc bộ tàu lượn, từ đó gắn bó với máy bay. Cô gái trẻ ngày càng xuất sắc và được mời gia nhập một hội bán quân sự về máy bay.</p>
<p>Fomicheva được chứng nhận phi công năm 1937, và làm huấn luyện một năm sau đó. Tài huấn luyện của cô được bộc lộ khi chỉ trong ba năm, 65 học sinh của cô đã được nhận vào các trường hàng không quân sự.</p>
<p>Khi trung đoàn phi công toàn nữ được lập ra bởi Marina Raskova, Fomicheva cũng tình nguyện tham gia. Dù sao, Raskova cũng bị thuyết phục bởi tài năng của cô và sớm đưa cô vào trung đoàn máy bay ném bom. Những tân phi công được huấn luyện ở Engels và được gửi tới trung đoàn máy bay ném bom bổ nhào 587, vốn được chuyển từ máy bay cũ một động cơ SU-2 sang loại mới hai động cơ Pe-2, khó sử dụng hơn.</p>
<p>Trong hai phi vụ đầu tiên đầu năm 1943, Fomicheva bay cùng với phi đội phi công nam ngay khi Trận Stalingrad bước vào giai đoạn cuối. Cô nhanh chóng nắm được trách nhiệm của mình, không cần người giám sát nữa để hỗ trợ phi đội bay của mình. Thay mặt phi đội trưởng, cô thành thục huấn luyện cấp dưới. Suốt trận đánh ở Kuban mặt trận Bắc Caucasus, phi đội của cô không có bất kì thương vong nào.</p>
<p>Đáng chú ý nhất là trận đánh ngày 2-6-1943, phi đội của Klava Fomicheva nhận được sự động viên khen ngợi từ Chỉ huy không quân. Chiếc Pe-2 xuất kích tới Kuban trong một phi vụ ném bom, được hỗ trợ bởi máy bay tiêm kích. Trước khi họ bị đánh chặn, phi đội tiêm kích bay cùng máy bay ném bom để truy kích máy bay địch. Tám chiến đấu cơ Đức cố gắng xoay chuyển tình thế. Chiếc ném bom thoát khỏi đội hình, bắt đầu cuộc giao tranh tàn khốc bằng việc bắn hạ bốn máy bay địch. Trong khi đó, năm chiếc máy bay ném bom cũng bị bắn hạ, nhưng toàn bộ phi công đều sống sót. Trận chiến đã đặt những dòng tít lớn lên các tờ báo Xô viết sau đó.</p>
<p>Ngày 17-9-1943, máy bay của Fomichave bị bắn bởi pháo phòng không khi quay về sau một phi vụ ném bom. Một động cơ bị cháy, một người lái bị thương, nhưng cô phi công dũng cảm vẫn nỗ lực đưa máy bay hạ cánh an toàn xuống một sân bay của quân Liên Xô vừa bị trút bom. Chiếc máy bay bật tung lên khi nhào xuống một hố bom và bắt đầu bốc cháy. Cô và phi công đi cùng đã thoát chết với chấn thương khá nặng, còn người xạ thủ ngồi sau thì hy sinh. Fomicheva dưỡng bệnh trong bệnh viện đến đầu năm 1944.</p>
<p>Trước khi chiến tranh kết thúc, máy bay của Fomicheva còn bị bắn hạ lần nữa vào ngày 23-6-1944, khiến cô bị thương ở chân và bị bỏng. Cô và phi công của mình, Galina Dzhunkovskaya buộc phải nhảy dù khỏi máy bay ở 150m. Cô dừng bay khoảng 2 tháng và tiếp tục nhận nhiệm vụ mới vào tháng 8.</p>
<p>Klavdiya Fomicheva đã hoàn thành 55 phi vụ tính đến tháng 9-1944. Cuối chiến tranh, cô được tung hô với 11 phi vụ thành công. Ngày 18-8-1945, người nữ phi công xuất sắc nhận danh hiệu anh hùng Liên Xô.</p>
<p>Sau chiến tranh, Fomicheva huấn luyện ở trường đào tạo Không quân, nhưng về hưu năm 1956 do sức khoẻ yếu, là hậu quả chiến tranh để lại. Bà mất ngày 5-10-1958 và được chôn cất ở Moskva.</p>
<p>Gia Vũ dịch từ <em>Heroines of the Soviet Union</em>, Henry Sakaida, Osprey Publisher</p>
<p>Tháng 3 &#8211; 2006</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/javous308.wordpress.com/1130/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/javous308.wordpress.com/1130/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1130&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/1eacb9d519b56ba084cc543239479cc9?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">javous308</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Những Nữ Anh Hùng Liên Xô trong WWII</title>
		<link>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr/</link>
		<comments>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Nov 2009 23:45:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>javous308</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch khác]]></category>
		<category><![CDATA[Ivanovna Dolina]]></category>
		<category><![CDATA[Liên Xô]]></category>
		<category><![CDATA[WWII]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://dejavous.net/?p=1126</guid>
		<description><![CDATA[Theo tác giả Henry Sakaida thì Liên Xô là đất nước duy nhất trong WWII tổ chức và sử dụng phụ nữ trong chiến đấu. Mặc dù lực lượng Đồng minh cũng sử dụng phụ nữ trong quân đội nhưng nhiệm vụ của họ chỉ giới hạn trong công tác hành chính, y tế, truyền &#8230; <a href="http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr/">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a><img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1126&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Theo tác giả Henry Sakaida thì Liên Xô là đất nước duy nhất trong WWII tổ chức và sử dụng phụ nữ trong chiến đấu. Mặc dù lực lượng Đồng minh cũng sử dụng phụ nữ trong quân đội nhưng nhiệm vụ của họ chỉ giới hạn trong công tác hành chính, y tế, truyền tin, vận tải và các mảng kỹ thuật mà chủ yếu là ở sau tiền tuyến. Tuy nhiên rất nhiều phụ nữ Sô Viết đã cầm lấy vũ khí và ra trận chiến đấu cùng với những binh sĩ nam trong những trận chiến khốc liệt nhất. Trong số hơn 10 triệu lính Sô Viết tham gia chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-45), khoảng 800.000 trong số họ là phụ nữ.<span id="more-1126"></span></p>
<p><strong>Mariya Ivanovna Dolina &#8211; Nữ phi công anh hùng</strong></p>
<p>Mariya Ivanovna Dolina được xem là &#8220;Mẹ đẻ của Máy bay ném bom Xô Viết&#8221;. Cô sinh ngày 18-12-1922 ở Omsk vùng Siberia và là chị cả trong gia đình nông dân nghèo khó có đến mười người con. Khi cha bị tàn phế, cô nghỉ học học lớp 8 để xin vào làm trong một xưởng máy.</p>
<p>Tại đây, cô có điều kiện tham gia một lớp học về máy bay và trở nên xuất sắc vượt trội. Do thiếu hai tuổi để được vào học trường Hàng không nên lãnh đạo trường đã khai thêm cho cô 2 tuổi nữa, và giữ nguyên trong các giấy tờ sau này. Cô tốt nghiệp trường bay Kherson trước chiến tranh và mang hàm trung úy của 9ơn vị quân Dự bị, sau đó tham gia đơn vị vận tải hàng không.</p>
<p>Khi chiến tranh bắt đầu, nhiệm vụ đầu tiên của Dolina là hỗ trợ đưa máy bay ra khỏi sân bay và phá hủy khu chứa máy bay cũng như khu nhiên liệu để tránh mọi thứ rơi vào tay giặc. Sau đó, cô được nhận vào phục vụ quân đội. Sau khóa huấn luyện, cô được bổ nhiệm vào trung đoàn Máy bay ném bom kiểu bổ nhào (Dive-bomber) 587. Dlina lái chiếc Petlyakov Pe-2 hạng trung hai động cơ (3 phi công) và ban ngày, nhiệm vụ của cô là hỗ trợ chiếc chỉ huy của phi đội bay. Sau này đổi tên là Phi đoàn máy bay tiêm kích phòng vệ M.M.Raskova Borisov 125.</p>
<p>Ngày 2-6-1943, máy bay của Dolina bị trúng đạn sau trận ném bom ở Kuban. Ban đầu bị bắn bởi hỏa lực phòng không mạnh mẽ của địch, cô vẫn hoàn thành nhiệm vụ và điều khiển máy bay quay về. Nhưng trên đường trở về, máy bay bị tấn công bởi một chiến đấu cơ của Đức và bùng cháy. Tay súng trên máy bay của Dolina bắn hạ một chiếc và họ lao xuống một đồng cỏ. Chiếc phi cơ bắt đầu bốc cháy ngùn ngụt. Tay súng máy, người nam duy nhất, tuy bị thương ở chân nhưng vẫn cố gắng mở nắp máy bay, đưa 2 nữ phi công, Dolina và người kia là Galina Dzhunkovskaya ra ngoài. Cả ba cố gắng thoát ra khỏi đám lửa đang thiêu rụi tất cả. Một tay pháo binh đưa họ trở về và Dolina phải trải qua 1 tháng trong bệnh viện với chấn thương sụi cột sống, mà vẫn kéo dài dai dẳng đến sau này.</p>
<p>Chiến đấu trực diện với kẻ thù trên mặt đất là vô cùng gian truân. Chỉ có 5 nữ phi công của phi đội Pe-2s còn sống và đã trở thành anh hùng. Phi đội trưởng Mariya Dolina hoàn thành 72 chuyến bay và được phong anh hùng Xô Viết ngày 18 tháng 8-1945. Cô đã bắn hạ 3 máy bay của kẻ thù và thả 45000 kg bom trong sự nghiệp.</p>
<p>Sau chiến tranh, Dolina làm ở nhiều cục khác nhau. Bà được phong anh hùng lần thứ hai khi phát biểu tại Hội nghị Cựu chiến binh tại Moskva trong Ngày chiến thắng năm 1990.Bài nói của Dolina khiến mọi người xúc động về cảnh ngộ khốn khổ của một cựu chiến binh về già. Bài phát biểu kéo dài hơn 5 phút so với dự định, nhưng mọi người vẫn chia sẻ và chăm chú lắng nghe. Quay sang phía Mikhail Gorbachev hai lần, bà đòi hỏi phải tăng thêm nữa tiền trợ cấp cho cựu chiến binh. Gorbachev cũng hai lần đứng dậy, gật đầu với bà và vỗ tay đồng tình. Ngay hôm sau đó, tiền trợ cấp đã được tăng lên 1 bậc.</p>
<p>Tổng thống Leonid Kuchma của Ukraine, trong Lễ kỉ niệm lần thứ 50 kết thúc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, đã hết lòng tôn vinh Dolina. Hiện giờ, bà sống với con trai tại Kiev.</p>
<p>Gia Vũ dịch từ <em>Heroines of the Soviet Union</em>, Henry Sakaida, Osprey Publisher</p>
<p>Tháng 3-2006</p>
<p><strong>Đôi điều về tác giả:</strong></p>
<p>Henry Sakaida sinh tại Santa Monica, California vào tháng 10 năm 1951. Anh bắt đầu yêu nền văn hóa Nga Xô và cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại sau khi tham dự một khóa học tiếng Nga và du lịch đến Ukraine và Nga hai lần để nghiên cứu. Anh là một tác giả giàu kinh nghiệm và đã xuất bản một số sách thuộc lĩnh vực mình quan tâm, như <em>Lịch sử những trận chiến trên không của Nhật</em>, và ba cuốn khác của NXB Osprey. Henry hiện sống với vợ và 2 con ở thành phố Temple, cách Los Angeles 15 dặm.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/javous308.wordpress.com/1126/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/javous308.wordpress.com/1126/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=dejavous.net&#038;blog=35309784&#038;post=1126&#038;subd=javous308&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://dejavous.net/2009/11/19/heroines-of-ussr/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/1eacb9d519b56ba084cc543239479cc9?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">javous308</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
