JG Ballard, Tác Giả Của Crash, Qua Đời Ở Tuổi 78

Tiểu thuyết gia JG Ballard, người khơi gợi một cái nhìn ảm đạm về đời sống hiện đại với một chuỗi tiểu thuyết và truyện ngắn đầy uy lực hơn 50 năm về trước, đã qua đời sau thời gian dài vật lộn với bệnh ung thư.

Đại diện của nhà văn, Margaret Hanbury, vào tối ngày 20/4 đã báo “với lòng đau buồn sâu sắc” rằng tác giả 78 tuổi này đã ra đi sáng ngày 19/4 sau nhiều năm lâm trọng bệnh.

Hanbury, người làm việc với Ballard hơn 25 năm, nói rằng ông là một tiểu thuyết gia “thông thái, dồi dào bút lực”. “JG Ballard đã trở thành cây đại thụ của văn chương thế giới trong hơn 50 năm. Tiếp theo những cuốn tiểu thuyết đầu tay của những năm 60, 70, tác phẩm của ông đã nhận được lượng độc giả đông đảo hơn với việc xuất bản Empire of the Sun năm 1984, cuốn sách nhận được một số giải thưởng và được đại diễn Steven Spielberg chuyển thể thành phim.”

“Sự quan sát sắc bén và sâu rộng của ông về cuộc sống đương đại được chắt lọc trong những cuốn tiểu thuyết thông thái, đầy uy lực, những cuốn sách đã được xuất bản khắp thế giới và đánh dấu vị trí tôn kính mà Ballard đạt được.”

Cảm hứng từ những tạp chí science fiction quen thuộc mà ông bắt gặp khi ở Canada trong thời gian phục vụ cho RAF (Không quân hoàng gia Anh – ND), Ballard bắt đầu xuất bản những truyện ngắn gợi lên những khung cảnh đổ nát tràn ngập những máy móc hư hỏng, những bãi biển hoang vắng và tòa nhà bỏ hoang.

Những cuốn tiểu thuyết về thảm họa và sự thử nghiệm, gồm The Drowned World (1962) và Crash (1973), sau đó được chuyển thể thành phim bởi David Cronenberg, mang lại cho ông tiếng tăm đang vang lên của một ngòi bút tiên phong mang tư tưởng chống-thiết lập. Crash, ở đó một cặp đôi nam nữ bị kích dục qua [việc tham gia - ND] những vụ đụng xe hơi, được viết khi người ta xây dựng nới rộng một xa lộ băng qua cuối con đường nhà ông ở Shepperton, phía Tây London.

Năm 1984, Ballard được công chúng thừa nhận ở một vị thế mới với Empire of the Sun, một cách tiểu thuyết hóa hiện thực không e dè về khoảng thời gian bị giam giữ khi còn là thiếu niên trong một trại của lính Nhật dành cho dân thường ở Thượng Hải.

Ông mất 40 năm tự mình chuẩn bị đế có thể viết về khoảng thời gian trưởng thành của đời mình – “20 năm để quên, và 20 năm nữa để nhớ,” như ông miêu tả sau này. Cuốn tiểu thuyết viết về một chàng trai trẻ người Anh, cũng như nhiều nhân vật dẫn chuyện khác của Ballard, mang tên giống ông (Jim là tên thân mật của James – ND), trải qua cuộc chiếm đóng của quân Nhật ở Thượng Hải. Sống tách rời với cha mẹ, ban đầu Jim sống sót bằng những bịch thứ ăn bỏ đi trong ngôi biệt thự để trống của cơ quan tái thiết quốc tế, trước khi bị tóm bởi một lính Nhật và bị giam trong Trung tâm tập hợp thường dân Long Hoa, nơi nó tận hưởng cái tự do quái đản giữa cái đói, bệnh tật và cái chết.

Ballard nói về tuổi thơ của ông: “Tôi có những kí ức – Tôi không nói là hạnh phúc – không cay đắng về thời gian ở trại. Tôi nhớ nhiều cảnh hung bạo và trừng phạt thỉnh thoảng vẫn xảy ra, trong lúc mà bọn trẻ chúng tôi đang vui đùa với hàng tá trò chơi, bất kể lúc nào!”

Sinh năm 1930 tại Thượng Hải, Ballard đến Anh với ba mẹ sau chiến tranh, nơi ông học nội trú tại trường Leys ở Cambridge; bước chân, như ông miêu tả, “ra khỏi một ngôi trường, để vào một trường khác.” Sau khi học y khoa tại Cambridge, nơi ông dè bỉu là một “công viên mang dáng dấp học thuật”, ông học Ngữ văn Anh tại University of London, trước khi bước vào chuỗi công việc và viết truyện ngắn vào thời gian rảnh rỗi.

Truyện được xuất bản đầu tiên của ông, một ngụ ngôn về loài cây biết hát tên là Prima Belladonna, xuất hiện trên tạp chí Science Fantasy năm 1954. Cũng trong năm đó cuộc triển lãm ở phòng trưng bày Whitechapel đánh dấu sự ra đời của pop art. Từ cuộc triển lãm này và những tác phẩm của những nhà siêu thực như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali và Paul Delvaux ông tìm được cảm hứng cho cái sau này ông gọi là “hư cấu của ngày hôm nay”.

Cây bút science fiction (tức Ballard – ND) trẻ tuổi “không mấy hứng thú với đề tài về tương lai xa xôi, phi thuyền và những thứ đại loại thế”, ông giải thích, mà hứng thú với “một thế giới đang tiến hóa, thế giới của những điều đáng tin nhưng ta không cảm nhận được, của sự phát triển quan cảnh truyền thông, của du lịch đại chúng, của những ngoại ô chuẩn tắc rộng lớn bị thống trị bởi truyền hình – đó là một dạng của science fiction, và giờ đây nó vốn đã như vậy”.

Sự qua đời đột ngột của vợ ông, Mary, trong kì nghỉ năm 1964 để mình ông gà trống nuôi con với ba đứa trẻ, nhưng cuộc sống bên gia đình ở Shepperton khiến trí tưởng tượng của Ballard mặc sức nảy nở, khi tác phẩm của ông chuyển sang thứ chủ nghĩa hiện thực chiêm nghiệm vô định được ra đời vào những năm 1960 ở Anh quốc.

Những tác phẩm sau này của ông tiếp tục hướng cuộc sống hiện đại đến những thái cực của riêng nó, với một xã hội dystopia hung hãn trong Supper Cannes (2000), cuộc cách mạng của tầng lớp trung lưu trong Millennium People (2003), và sự chuyển hướng xuống chủ nghĩa phát xít vị lợi tiêu dùng (consumerist facism) trong Kindom Come (2006). Nhưng cái mác nhà văn science fiction vẫn còn đó, khiến Ballard rất khó chịu, một phần như là cách để “xoa dịu đi hiểm họa” (mà tác phẩm của Ballard nói đến – ND). “Bằng cách gọi tiểu thuyết như Crash là science fiction, bạn đã cách ly cuốn sách và bạn không cần biết nó viết gì”, ông giải thích.

Ông tự cô lập mình với giới văn chương thế giới, và từ chối nhận tước hiệu CBE (Commander of the British Empire, sĩ quan đế chế Anh – ND) năm 2003, bảy tỏ sự khinh miệt với hệ thống phẩm tước, coi nó như một “Kiểu thậm xưng đầy chất ruritanian (một quốc gia hư cấu trong tiểu thuyết của Anthony Hope – ND) nhằm bợ đỡ nền quân chủ cồng kềnh của chúng ta”.

Ông sống sót trong bạo bệnh là nhờ người bạn đời Claire Walsh và ba người con James, Fay và Beatrice.

Dịch từ The Guardian

Giải Nobel Văn học 2008

Vào thứ năm này (ngày 9/10), giải Nobel Văn học sẽ được công bố. Theo Thanh niên online thì những ứng cử viên nặng kí của giải thưởng năm nay sẽ là: Philip Roth (Mỹ), Haruki Murakami (Nhật), Claudio Magris (Ý), Amos Oz (Israel) và Joyce Carol Oates (Mỹ). Trong số này thì Murakami và Roth là nổi bật hơn cả.

Theo tôi thì giải năm nay có lẽ sẽ thuộc về Philip Roth bởi hai lẽ. Một là ông này đã quá già (75 tuổi) và có lẽ cũng đến lúc người ta nên trao vinh quang cho ông. Năm ngoái Doris Lessing (Anh) cũng được giải ở cái tuổi thất thập cổ lai hy. Mấy ông nhà văn có tài mà vẫn còn trẻ, khỏe, có ích, chẳng hạn như Milan Kundera năm nào cũng được đồn là sẽ đoạt giải nhưng cuối cùng vẫn vô duyên với Nobel Văn học. Thứ hai là những giải thưởng Philip Roth đoạt được quá khủng, ít ra là so với những ứng viên còn lại: giải Pulitzer văn chương năm 1998, ba giải Pen/Faulkner bên cạnh mấy giải lẻ tẻ không nói làm gì. Tiếc là sách dịch của ông sang tiếng Việt chưa nhiều. Thể loại ông này viết chủ yếu là tự truyện (autobiograhphy), giống mấy ông nhà văn Pháp, đọc buồn ngủ chết được.

Còn Murakami thì quá quen thuộc với độc giả Việt Nam khi hầu hết tiểu thuyết của ông đã được dịch sang tiếng Việt, mà gần đây nhất là Kafka bên bờ biển do Dương Tường dịch. Tiếc là một mảng rất xuất sắc của Murakami là truyện ngắn thì chưa được khai thác đẩy đủ. Trong mấy cuốn đã đọc thì tôi cũng chẳng nhớ gì nhiều, Rừng Nauy tạm được, Phía Tây mặt trời phía Nam biên giới có lẽ là hay nhất, Kafka bên bờ biển thì bỏ dở tại hồi đó đọc bản tiếng Anh, Biên niên kí chim vặn dây cót mượn của thằng bạn chưa trả. Nhân vật của Murakami (trong hai cuốn đầu mà tớ còn nhớ mang máng) có đặc điểm chung là có sự dằng xé nội tâm rất gay gắt và chực bùng ra lúc nào không biết (bằng cách tự tử hehe), bởi xung quanh họ luôn là một màu u ám của nỗi cô đơn, lạc lõng, và mất phương hướng. Nghĩ lại thấy đúng phết. Tưởng tượng bạn đang sống trong một xã hội thông tin như thế, cuộc sống của bạn gắn liền với đường line internet và bờ lốc bờ liếc các kiểu, tự dưng có một chuyện xảy đến khiến bạn thấy sốc. Bạn muốn tìm một ai đó để chia sẻ mà chẳng có ma nào online cả, hoặc là ai cũng invi hết, muốn gọi điện mà chẳng ma nào bắt máy, muốn rủ ai đó đi chơi mà chẳng có ma nào bên cạnh… Tự nhiên bạn muốn được thả lưng xuống thảm cỏ xanh, trước mặt là bầu trời trong vắt và nằm cạnh bạn là một người con gái thông minh dễ thương sẵn sàng lắng nghe mọi lời tâm sự. Tất nhiên mong muốn vẫn chỉ là mong muốn và chẳng có sự tình cờ đẹp đẽ nào xảy đến cả. Và bạn trở thành một nhân vật trong tiểu thuyết của Murakami.

Tuy nhiên cá nhân tôi thì thích Philip Roth được giải hơn, vì nếu Murakami được thì sẽ chẳng có gì đáng bàn cả, ngoài chuyện tài chính Mỹ khủng hoảng và phí trước bạ xe máy ở TP.HCM tăng gấp đôi hix hix. Tâm lý chung thì khi giải Nobel được trao cho một tên tuổi xa lạ với độc giả Việt Nam, tác giả đó sẽ có cuộc đổ bộ đầy ngoạn mục xuống nền dịch thuật nước nhà, như trường hợp của Orhan Pamuk cách đây hai năm, và khi đó có lợi nhất vẫn là người đọc. Hy vọng là thế.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.