Posts Tagged ‘mỹ’

Elena Kagan

Undergraduate thesis (giống như honours thesis) của Elena Kagan ở đây, dành cho những ai quan tâm. Bà Elena Kagan vừa được Obama bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ hôm 10/5.

Đài Loan Tiến Thoái Lưỡng Nan

Tổng hợp từ báo điện tử Financial Times

Vào thứ 2 tuần đầu tuần, Đức Đa Lai Lạtma đã có chuyến thăm Đài Loan theo lời mời của một số thành viên đảng Dân Tiến (DPP), cầu nguyện cho các nạn nhân xấu số trong trận bão Marakot. Read the rest of this entry »

Vụ Xét Xử Người Nữ Nhà Báo Mỹ

Roxana Saberi, một nhà báo Mỹ gốc Iran, bị kết án 8 năm tù vì bị cho là gián điệp và trao các tài liệu mật về cho các cơ quan tình báo của Hoa Kỳ. Cô hiện đang bị giam ở nhà tù tai tiếng Evin ở miền bắc Tehran. Read the rest of this entry »

Obama và sự cản đường trí thức

LND: Chủ nghĩa chống trí thức là quan niệm bài trí thức, nhất là của giới lãnh đạo, vì cho rằng trí thức đồng nghĩa với tinh thần phê phán, phản biện và do đó, không có tính thực dụng tức thời. Quan niệm này đã xuất hiện từ lâu trong hệ thống chính trị nước Mỹ. Năm 1963, Richard Hofstadter, đoạt giải Pulitzer cùng với tác phẩm “Chủ nghĩa chống trí thức trong xã hội Mỹ”, cho rằng vai trò của trí thức đã suy yếu và căn nguyên của vấn đề chính là nền giáo dục mang nặng tính dân chủ hóa. 45 năm sau với vị tổng thống da màu đầu tiên, thời cuộc nước Mỹ dường như đã thay đổi. Nicholas Kristof, cũng là một nhà báo đoạt giải Pulitzer, cho rằng việc Obama thắng cử sẽ đưa nước Mỹ rẽ sang một hướng khác, ngày càng tách xa khỏi thứ chủ nghĩa “phản-trí thức” đó.

Sự thắng cử của Obama là một dấu mốc lịch sử không chỉ vì màu da của ông. Điều đáng ghi nhận nữa về cuộc bầu cử này là cử tri Mỹ đã chọn được một vị tổng thống cởi mở, gần dân, và là một trí thức lão luyện.

Có thể, chỉ là phỏng đoán mà thôi, kết quả này sẽ là một bước đưa nước Mỹ thoát khỏi chủ nghĩa chống trí thức, vốn đã là tâm lý cố hữu trong xã hội Mỹ. Một nhà lãnh đạo thông minh và có học vấn không phải là thuốc trị bách bệnh, nhưng gần đây chúng ta cũng thấy rằng mặt khác, một Nhà trắng ghét bỏ giới hàn lâm và xem thường sự phản biện cũng không hẳn một phương thuốc hữu ích.

Chúng ta không thể giải quyết những khó khăn trong giáo dục khi mà theo kết quả thăm dò, hầu như người Mỹ tin vào đĩa bay cũng như cách họ tin vào sự tiến hóa, và một phần năm người Mỹ tin rằng Mặt trời quay quanh Trái đất.

Gần một nửa số thanh niên Mỹ trong một cuộc khảo sát năm 2006 cho rằng không nhất thiết phải biết một quốc gia nằm ở đâu khi nghe tin thời sự về quốc gia ấy. Điều đó cũng chữa cháy phần nào cho Sarah Palin khi bà, theo hãng tin Fox, không biết rằng châu Phi là một lục địa chứ không phải một quốc gia.

Có lẽ John Kennedy là vị tổng thống cuối cùng không cảm thấy đắn đo về vị trí trí thức của mình và về những học giả thông thái nhất đã được ông cất nhắc vào nội các. Gần đây hơn, chúng ta đã có những vị tổng thống thông minh và học vấn cao cố che đậy trí tuệ. Richard Nixon là một trí thức khắt khe với bản thân, còn Bill Clinton thì che giấu bộ óc thông thái ẩn sau chất giọng bình dân vùng Arkansas.

Còn với tổng thống Bush, ông đã đưa chủ nghĩa chống trí thức trở thành đường lối điều hành đất nước, không ngừng bác bỏ ý kiến của các nhà chuyên môn (như các chuyên gia về vấn đề Trung Đông, khí hậu, bệnh lý sinh sản). Ngài Bush tuy nhanh nhạy trong việc ghi nhớ những dữ kiện và khía cạnh khác nhau, nhưng tôi không thể nghĩ ra một ai khác mà tôi từng phỏng vấn lại quá thờ ơ với những vấn đề thời sự như thế.

Ít nhất là từ sau chiến dịch tranh cử của Adlai Stevenson năm 1950, sẽ là bất lợi cho nền chính trị nước Mỹ nếu quá đề cao học vấn. Sự minh mẫn bị đánh giá là yếm thế, sự suy nghĩ cẩn trọng bị xem là nhu nhược. Nhà phản biện xã hội William Burroughs từng thẳng thừng tuyên bố rằng “những người trí thức là những kẻ tứ cố vô thân ở nước Mỹ.”

(Điều đó không có nghĩa là những trí thức thì thường đầy ắp ý tưởng. Sau một trong những bài phát biểu hùng hồn của Stevenson, một người ủng hộ gào lên đại để rằng, “Ngài sẽ được bầu bởi mọi người Mỹ biết suy nghĩ!”, và người ta nói Steveson đã trả lời là: “Điều đó chưa đủ đâu. Tôi cần sự ủng hộ của số đông người Mỹ cơ!”)

Tuy nhiên thời cuộc đã thay đổi. Chúng ta giải thích cho cuộc bầu cử năm 2008 thế nào đây về một giáo sư luật được đào tạo từ một trường thuộc Ivy League1, và còn là một người luôn ngưỡng mộ các triết gia và thi sĩ?

Phải thừa nhận là ngài Obama đã tránh được những xét nét về một học vấn ưu việt bởi vì ông là một người da màu. Điều đó làm lãng trí tất cả mọi người, và vì là người da đen ông không nằm trong thiên kiến về việc phải là một học giả tư duy sắc bén ngồi trong tháp ngà. Nhưng điều đó cũng nói lên rằng tổng thống Bush có một sự kém cỏi đến đáng xấu hổ.

Trí thức là người say mê những luồng tư tưởng và không ngại sự phức tạp. Người trí thức đọc những tác phẩm kinh điển, ngay cả khi không ai để mắt tới, bởi họ biết cảm thụ những bài học của Sophocles và Shakespeare khi cho rằng thế giới bị vây quanh bởi những sự bất định, mâu thuẫn và, ngài tổng thống Bush hãy ghé tai nghe tôi nói này, những người lãnh đạo sẽ tự thoái ngôi khi họ trở nên quá cứng nhắc và say sưa trong cơn mê ngủ của sự trong sáng phẩm hạnh.

(Trí thức là người đối diện với thực tế. Ngược lại, kẻ thông thái nửa mùa là một gã hợm mình ưa trích lời của Sophocles và che lấp sự nông cạn của mình bằng những đại ngôn như “rực rỡ” hay “kiêu kỳ”.)

Khác với hầu hết chính trị gia khi đứng trước micro, ngài Obama ưa diễn thuyết phức tạp. Ông không hạ cố hay đơn giản hóa như nhiều chính trị gia thường làm, và ông nói chuyện bằng nhiều trường đoạn hơn là những câu ngắn. Trang web Global Language Monitor, chuyên bám sát những vấn đề ngôn ngữ, thống kê rằng trong cuộc tranh luận trên truyền hình cuối cùng, phần nói chuyện của Obama có độ phức tạp bằng 9, trong khi của John McCain đạt mức 7.

Trước khi Obama nhậm chức, tôi muốn nói rằng những người thông thái sẽ đạt đến vinh quang của quyền lực. Họ không thể ư? Hãy nghĩ về vị hoàng đế La Mã Nero, một trong những nhà thông thái bậc nhất đế chế cổ đại, người giết em mình, mẹ và người vợ đang mang thai; sau đó thiến một gã nô lệ và lấy về làm vợ; và nhiều khả năng là đã đốt thành Rome, rồi thiêu những người Thiên chúa giáo trong những cây đuốc sống để thắp sáng khu vườn của mình.

Tổng thống James Garfield có thể đồng thời viết chữ Hy Lạp bằng một tay và tay kia viết chữ La tinh. Thomas Jefferson là một học giả đáng ngưỡng mộ và còn là nhà phát minh, và John Adams là người luôn mang bên mình một quyển thơ. Nhưng tất cả họ đều không được tôn vinh bằng George Washington, một trong những tổng thống đầu tiên kém trí thông minh nhất.

Tuy nhiên khi ngài Obama trở thành tống thống ở Washington, tôi hy vọng rằng trí tuệ của ông sẽ mang đến một sắc thái mới cho nước Mỹ. Có thể vào một ngày không xa, những vị lãnh đạo của chúng ta sẽ không phải ngượng ngùng rằng họ là những nhà thông thái thật sự.

Nicholas D. Kristof

Dịch từ Op-Ed, The New York Times (9/11/2008)

http://www.nytimes.com/2008/11/09/opinion/09kristof.html?hp

Bóng ma giảm phát ngấm ngầm lộ diện

Peter S. Goodman

Khi nhiều quốc gia trượt sâu hơn vào tình trạng khó khăn tài chính, một hiểm họa mới dường như đang dấy lên bên trong nền kinh tế Mỹ, thảm cảnh mà hàng hóa ứ đọng chờ người mua và giá cả suy giảm, bóp nghẹt vốn đầu tư thanh sạch và làm tình trạng thất nghiệp thêm trầm trọng trong nhiều tháng tới, thậm chí là trong nhiều năm.

Người ta gọi nó là giảm phát, hay sụt giảm giá cả, một thuật ngữ làm các nhà kinh tế nổi gai ốc.

Giảm phát từng đi đôi với cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Sự rớt giá liên tục cũng nằm trong tâm chấn của cái gọi là “thập kỉ bị đánh mất” ở nước Nhật sau sự đổ vỡ kinh hoàng của bong bóng thị trường bất động sản vào cuối những năm 1980, giai đoạn mà hiện nay một số chuyên gia tìm thấy có nhiều tương đồng với tình trạng khó khăn của nước Mỹ.

“Điều khả dĩ đó là phác họa rủi ro mà tôi nhận thấy”, Robert J. Barbera, kinh tế gia đầu ngành tại công ty nghiên cứu và mậu dịch ITG, cho biết. “Nó là cuộc khủng hoảng mà chúng ta đối mặt.”

Khi những nền kinh tế trên toàn cầu yếu đi, nhu cầu dầu mỏ, đồng, lương thực và các mặt hàng khác giảm đi, kéo theo sự hạ giá của nguyên liệu thô. Tuy giả cả giảm rõ rệt ở hầu hết hàng hóa và dịch vụ, vẫn hiển hiện một ngoại lệ là các mặt hàng gia dụng. Nhu cầu giảm bắt đầu làm hạ giá thành một số mặt hàng, như đồ nội thất và đồ giường, vốn đã giảm nhẹ từ đầu năm 2007, theo số liệu của chính phủ. Đồ điện, vật dụng và thiết bị gia đình cũng bắt đầu giảm giá.

Chỉ vài tháng trước, những nhà chính sách người Mỹ đã lo lắng về vấn đề ngược lại, đó là tình trạng tăng giá, hay lạm phát, khi giá dầu mỏ và lương thực leo thang khi đó rút ruột nền kinh tế. Vào tháng 7, giá cả bình quân cao hơn một năm trước đó 5,6 %, mức lạm phát cao nhất kể từ năm 1991. Tuy nhiên đến cuối tháng 9, mức lạm phát theo năm giảm còn 4,9 % và được chờ đợi sẽ còn thấp hơn nữa.

Điều lo lắng khác nảy sinh khi ở trường hợp xấu nhất, lạm phát chấm dứt có thể khơi mào cho một điều tồi tệ: sự cắt giảm tiêu dùng lững thững và dai dẳng khi người tiêu dùng và nhà kinh doanh trên khắp thế giới mất sức mua, khiến hạ giá thành nhiều mặt hàng. Mặc dù được cân nhắc là khó thể xảy ra, điều đó vẫn có thể khiến nhà kinh doanh trì hoãn sản xuất và gia tăng cắt giảm nhân công, làm cho nhiều người mất khoản tiền lương và nhu cầu tiêu dùng suy giảm về sau.

Mối nguy hiểm ở chỗ khó tìm ra cách giải quyết. Những nhà chính sách có thể đại khái đẩy lùi lạm phát bằng cách tăng lãi suất, thắt chặt hoạt động kinh tế và cắt giảm nhu cầu tiêu dùng. Nhưng như trường hợp Nhật Bản đã trải qua, một nền kinh tế có thể chìm trong giảm phát nhiều năm liền, ngay cả khi đã đưa lãi suất về số không: giá cả sụt giảm khiến các công ty đắn đo trong đầu tư ngay cả khi thừa thãi tín dụng.

Hầu hết những năm 1990, giá nhà đất và hàng hóa không ngừng suy giảm ở Nhật Bản. Khi nhân công bị cắt giảm nhiều hơn và sức mua giảm, giá cả vẫn không ngừng rớt, tuột trong vòng xoáy bại sản. Một số người lo ngại nền kinh tế Mỹ đang lâm vào số phận tương tự, nếu như suy thoái sâu rộng và kéo dài, còn người tiêu dùng mất sức mua cũng như ở châu Âu, châu Á và Mỹ La tinh phải chịu xuống dốc.

“Đó là một nguy cơ đầy ý nghĩa vào lúc này”, Nouriel Roubini, nhà kinh tế ở Stern School of Business thuộc đại học New York cho biết. Ông là người đã tiên đoán trúng từ trước cuộc khủng hoảng tài chính và cảnh bảo khả năng giảm phát cách đây nhiều tháng. “Chúng ta đã bước vào vòng luẩn quẩn của nỗi khó khăn ngày một chồng chất”, ông nói.

Hầu hết nhà kinh tế, bao gồm cả Roubini và Barbera, cho rằng những nhà chính sách người Mỹ có đủ phương cách để ngăn ngừa hố đen giảm phát như đã từng bao trùm Nhật Bản. Nỗi lo giảm phát gần đây nhất ở Mỹ là vào năm 2003, nhưng Cục dự trữ liên bang (FED) đã ngăn chặn hiểm họa bằng cách giảm lãi suất nhằm giữ nền kinh tế phát triển. Lần này, FED một lần nữa phải mạnh tay, cắt lãi suất xuống mức 1% trong tuần này. Đồng thời những dự án bailout của chính phủ cũng đã đổ tiền vào nền kinh tế.

“Nếu bạn in đủ tiền, bạn có thể tạo ra lạm phát”, Kenneth S. Rogoff nói. Ông là kinh tế gia đầu ngành ở Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và hiện nay là giáo sư ở Harvard.

Nhưng ngay cả khi chính quyền Mỹ buông lỏng tín dụng, nguy cơ vẫn gia tăng. Không phải chỉ từ sau Đại suy thoái nhiều quốc gia mới phải đối mặt với nó. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng lên toàn cầu, như một con virus miễn nhiễm mọi phương cách chữa bệnh. Từ Hàn Quốc đến Iceland, Brazil, cơn dịch lan rộng, mang theo nó là sự thắt chặt tín dụng đã làm ngã gục ngay cả những công ty tài chính khả kháng nhất.

“Chúng ta đang bước vào cuộc suy thoái toàn cầu quyết liệt thật sự”, Rogoff nói. “Một cuộc suy thoái tài chính đáng kể đã được mở đường để trở thành nỗi hoảng sợ trên toàn cầu mang đầy đủ dáng dấp. Đó là một tình trạng rất nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ không chỉ một vài năm tới tồi tệ, mà chúng ta sẽ có một thập kỉ bị mất khác”.

Kinh tế toàn cầu đã phát triển khởi sắc trong những năm gần đây, phần nhiều hưởng lợi từ việc đầu tư cho mượn. Nó làm nổi lên những khu nhà ở trù phú ở Florida và California, nhà máy thép ở Ukraina, lò gia súc ở Brazil và khu phố thương mại ở Thổ Nhĩ Kì.

Làn sóng đó giờ đây đang đổi chiều. Những ngân hàng và tập đoàn tài chính đang tính đến những khoản lỗ đầu tư trị giá hàng trăm tỉ đô la. Khi khó khăn trong việc tích lũy lại vốn, họ hoãn việc cho khách hàng vay nợ, đòi các khoản trả nhanh chóng từ các khách hàng khác và các tài sản bán tháo, như nhà bán ra từ việc tịch thu để thế nợ, các khoản đầu tư liên quan đến thế chấp và nợ liên danh. Việc bán ra đang kéo giá cả xuống thấp hơn nữa, khiến trị giá tài sản trong bảng cân đối kế toàn giảm đi, nhiều trường hợp buộc phải phải thanh toán.

“Bạn rơi vào vòng phản hồi bất lợi này khi giá trị tài sản suy giảm”, Barbera nói. “Về căn bản bạn đang đặt gánh nặng xuống nền kinh tế toàn cầu.”

Trong những cuộc khủng hoảng trước, như ở Mexoco năm 1994 và hầu hết châu Á năm 1997 và 1998, những nền kinh tế non yếu cũng tìm cách phục hồi bằng việc đẩy mạnh xuất khẩu, không riêng gì nước Mỹ. Nhưng bây giờ, người tiêu dùng ở Mỹ bị ảnh hưởng nặng. Sau nhiều năm được mượn tiền mua nhà và dư dả chi tiêu tín dụng, người tiêu dùng đang bị quay lưng lại.

Từ châu Á đến Mỹ La tinh, xuất khẩu đang giảm dần và sẽ tiếp tục như thế khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới sa sút. Nỗi lo thêm chồng chất khi những nền sản xuất chủ yếu như Trung Quốc hay Ấn Độ, vốn gia tăng sản lượng mạnh mẽ trong những năm gần đây, sẽ phải bán hạ giá sản phẩm ra thị trường thế giới để giữ các nhà máy hoạt động và ngăn chặn nạn thất nghiệp, kéo giá cả thấp xuống.

Trước đó trong năm nay, một số nhà phân tích cho rằng những công ty ở Mỹ nên tiếp tục đà kinh doanh, ngay cả khi người tiêu dùng quay đi, bàng cách bán ra thị trường nước ngoài. Lập luận cho rằng Caterpillar, nhà sản xuất thiết bị xây dựng, có thể bị thiệt hại doanh thu ở Mỹ nhưng những dự án lớn từ Nga cho đến Dubai đòi hỏi nhà thầu nước ngoài. Úc và Brazil cũng cần mở rộng các hoạt động khai khoáng khi đưa quặng sắt đến những lò nung ở Đông Bắc Á.

Nhưng khi hầu hết thế giới đang gặp khó khăn, Ceterpillar cũng lo lắng. “Năm tới, không nghi ngờ gì nữa, sẽ là một thách thức”, James W. Owens, CEO của Ceterpillar nói.

Trung Quốc từ lâu đã là tâm điểm của lập luận cho rằng thế giới vẫn giữ đà tăng trưởng bất kể Mỹ rơi vào khó khăn. Trung Quốc đang nhập khẩu bông từ Ấn Độ và Mỹ, linh kiện điện tử từ Hàn Quốc, Malaysia và Đài Loan; gỗ từ Nga và châu Phi, và dầu từ Trung Đông.

Nhưng nhiều thành phẩm của Trung Quốc với nguyên vật liệu nhập từ nước ngoài đã đổ bộ vào thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Khi người tiêu dùng quay lưng ở những nước trên, các nhà máy Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng cùng với các nhà cung cấp trên toàn cầu.

Việc Trung Quốc sản xuất ít máy laptop hơn trước kéo theo nhu cầu về chip giảm. Tuần trước, Toshiba, nhà sản xuất chip lớn nhất ở Nhật, công bố khoản lỗ 275 triệu đô la từ tháng 7 đến tháng 9, cho rằng đó là hậu quả của nhu cầu trên thế giới giảm đi.

Nhu cầu cho TV màn hình phẳng ít hơn đồng nghĩa với việc giảm nhu cầu của màn hình thủy tinh phẳng. Tháng trước, Samsung, nhà sản xuất điện tử lớn ở Hàn Quốc, nói rằng việc vượt cung của sản phẩm này tạo nên khoản lỗ trong quý nặng nhất kể từ 3 năm qua.

Hiện nay, việc thừa mừa hàng hóa dường như đang xảy ra ở Mỹ. Đặt hàng của cho xe tải của các doanh nghiệp sụt giảm. Đầu tư trong thiết bị công nghiệp suy yếu. Tuy nhiên lượng vật tư lại gia tăng.

“Tôi lo lắng về một nền kinh tế tương tự nước Nhật”, Barry P. Bosworth, nghiên cứu sinh Viện Brookings cho biết. “Chúng ta sẽ gặp khó khăn trong việc làm thế nào để đưa nền kinh tế phục hồi trong vài năm tới”.

Dịch từ: The New York Times (31/10/2008)

http://www.nytimes.com/2008/11/01/business/economy/01deflation.html?pagewanted=1&hp

Về tác giả: Peter S. Goodman là cây bút kinh tế trong nước của báo Times. Trước đó, ông là phóng viên viết về kinh tế châu Á của tờ Washington Post trong mười năm.

-=-=-=-=-=-=

Bản đăng trên Vietnamnet

http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5251/index.aspx

Archives