When enough is enough?

When the economy is in the recession, major changes in both monetary and fiscal policy would be necessary to provide significant support to domestic demand. Whereas the Reserve Bank of Australia (RBA) are cautiously reducing the interest rate, the government is still spending more, probably making things worse down the track. They’re seemingly not in tune.

RBA’s rate cut

These figures are extracted from RBA’s website, showing its rate cut progress since the collapse of Lehman Brothers last September.

Effective Date Change in cash rate
(Per cent)
New cash rate target
(Per cent)
8 Apr 2009 -0.25 3.00
4 Feb 2009 -1.00 3.25
3 Dec 2008 -1.00 4.25
5 Nov 2008 -0.75 5.25
8 Oct 2008 -1.00 6.00
3 Sep 2008 -0.25 7.00

On Tuesday 8th April, the RBA announced to cut its official cash rate by 25 basis points to 3 per cent, the lowest rate in 49 years, following the two-month pause standing at 3.25 per cent. Most economists believe that February’s cut was the last of the big reductions. In fact, in this time the RBA is likely to take a more modest adjustment. The bank’s governor Glenn Stevens possibly won’t want to make further big strides in rate cut unless things get unexpectedly worse even though the bank is expected to cut rates by a further 50 basis points by the end of the year.

In terms of monetary policy, together with $7.1 billion tax cuts last July, making families about $1000 better off over one year, the RBA’s rate cuts since last September are working in the same way to put cash into households. Importantly, the official rate cut has reduced $800 a month off the repayments on a standard $250,000 mortgage over 25 years. As a result, consumer sentiment, especially in housing sector, is improving sharply, reflected in an 8.3 per cent rise in consumer confidence in April. Housing finance figures also show a 0.4 per cent rise in lending in February.

However, when some economists forecast that the recession is under way, the Treasury seemed to be more pessimistic when insisting on the technical definition that there must be at least two consecutive quarters of economic contraction before the actual recession. So the Reserve Bank would like to wait until the actual recession and see whether recovery is in prospect  before making any further moves on rates.

Government’s spending

On the other hand, the government’s borrowing is rising considerably to finance its spending, handouts and capitals works. Lets look at some of its recent welfare payments:

  • October 2008: $10.4 billion cash payments and home-buyers boost
  • November 2008: $6.2 billion subsidies for the car industry
  • January 2009: $30 billion guarantee for RuddBank
  • February 2009: $42.5 billion for bonuses, pink batts and schools
  • April 2009: $43 billion broadband plan

When the global economy is shrinking faster than first thought and many economists are more bearish to forecast its trough, the Australia’s $200 billion in debt is about to run up. This raise a little wondering that Lindsay Tanner, the Finance Minister, should look for ways to save rather than spend cash and Kevin Rudd should be more careful when he chooses who to help. (The biggest casualties of the recession, indeed, were those who lost their permanent jobs with little hope of re-entering the workforce. And what is behind that ‘human tragedy’ (as Swan once said) is the structural change in the workforce after any recession, making the higher proportion of part-time employees, which is never recovered to its level before that recession.)

In short, the Government has to spend more wisely to help those who feel the economic downturn most.

Fibre to the bush?

@ The Australian Cartoon

@ The Australian Cartoon

It is no doubt that the highlights of today, I mean these day, would be about the new plan of the Australian national broadband network. Yesterday, Kevin Rudd’s government has announced the plan to deploy a fibre-to-the-home (FTTH) network, which will connect 90 per cent of Australian with a 100-megabits-per-second (Mbps) broadband. I was a bit surprised when looking at its ambitious goal of 100Mbps, nearly 100 times faster than almost all services on offer now including my house’s package, and its enormous investment of $43 billion. The PM described this plan as “the biggest infrastructure venture in the nation’s history”.

The Government will set up a state-owned company holding at least 51 per cent stake and invite the private sector into the remainder. The “Aussie infrastructure bonds” will also be issued. Five years after this eight-year project’s completion, the Government will sell its entire holding. Telstra, the nation’s biggest telecommunication company and the owner of the nation’s biggest coaxial cable network passing 2.5 million homes, was signaled that it could take a stake in the new broadband company by possibly offering its existing network in return for equity. (I will post another entry about what is behind this Telstra’s bid.)

By deploying FTTH networks, this plan will take many advantages over the government’s previous fibre-to-the-node (FTTN) based network plan. FTTH involves a fibre-optic cable direct from a telephone exchange to the customer end instead of copper-wire telephone network using in FTTN, thus there’s hardly restriction on the download speeds. FTTH will be provided to residents in the city and towns with population of more than 1000. The remaining, accounted for 12 percent of Australians, who live in towns with fewer than 1000 residents, and on farms and in remote areas will have access to the wireless and satellite technologies with broadband speeds of up to 12Mbps. The whole plan will be carried out progressively over eight years, starting in Tasmania. It is expected to create about 25,000 jobs each year.

However, the Opposition Leader attacked Kevin Rudd’s government for some reasons. Warren Truss, leader of Nationals, accused the government of welshing its election promise. It should be reminded that one of Rudd’s core election promises was to establish a super-fast national broadband network which is accessible to almost all the Australians. Last year, the government issued a tender for rolling out a fibre-to-the-node service to 98 percent of the country with download speeds of 12 Mbps. Moreover, it is argued that the new broadband network plan will take people living in the countryside away of the new fast net’s advantages.

But I think the much more complicated reason, behind all these things, is the Rudd Government’s effort to re-nationalise Telstra, which was privatised a decade ago while still holding a monopoly on network infrastructure.

Update (9/4):

This is a screenshot taken by Linh, my friend in London. His broadband speeds are 20 times faster than my broadband’s current speeds and 50 times faster than it was last year. I’m living in a desert island.

Broadband speeds in University College of Londons campus

Broadband speeds in University College of London's campus

Updated (7/4/2015): Déjà vu on the “Fibre-to-the-bush”

On April 7, 2009, PM Kevin Rudd promised Australians of telecommunications that would change our lives.

Nam Lê – “Nhân vật tôi là nhân vật khó viết nhất”

Nam Lê sinh ra ở Việt Nam và lớn lên ở Úc. Anh làm luật gia trước khi đoạt giải thưởng Hội Truman Capote dành cho Lớp viết văn của đại học Iowa, nơi anh viết tác phẩm The boat (Con thuyền), tuyển tập truyện ngắn đoạt giải mang tính khám phá đẹp đẽ. Cuộc trò chuyện của Megan Walsh với nhà văn trẻ mới nổi trên văn đàn.

Anh vừa đoạt giải thưởng Dylan Thomas dành cho những cây bút có khiếu sáng tạo dưới 30 tuổi, và được đề cử cho 5 nhà văn xuất sắc dưới 35 tuổi của Quỹ National Book. Anh cảm nhận thế nào khi đã giành được những giải thưởng văn học?

Điều đó khiến tôi khá bất ngờ, hãnh diện và không ngạo mạn. Và một chút khó hiểu nữa. Không thể trông đợi nhiều vào những tuyển tập truyện ngắn khi mà mọi đánh giá đều có một cái gì đấy kích động. Do vậy, tôi đã rất phấn chấn khi được lọt vào vòng chung khảo của những giải thưởng danh giá ấy. Hẳn nhiên, sự non nớt là con dao hai lưỡi; tôi sẽ nói với hầu hết cây bút “trẻ” rằng chúng ta muốn tác phẩm của mình được đánh giá không phải trong nhất thời hay vì có triển vọng, mà đơn giản vì nó đáng được như thế. Đôi lúc có một thứ còn tồi tệ hơn việc được tung hô thành quả bởi vì anh còn trẻ, đó là việc được quyền sai sót, bởi vì anh còn trẻ.

Anh học về luật trước khi chuyển sang viết văn. Khi nào anh nhận ra mình muốn được viết?

Tôi luôn là một người ham đọc, và vai trò đó có ảnh hưởng đến việc viết văn. Ở trường tiểu học, tôi đọc mọi thứ có trong tay: văn học thiếu nhi, tiểu thuyết, truyện tranh, cổ tích… Lên trung học tôi bắt đầu tập trung vào đọc và viết thơ. Đến đại học tôi nảy hứng học làm báo, và sau khi tốt nghiệp, trong suốt một năm tự do, tôi bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi hoàn thành nó trong khi làm việc cho một công ty luật sau đó khoảng một năm. Mặc dù sau đó tôi đã xếp xó cuốn tiểu thuyết đó, nó cũng giúp tôi được nhận vào vào học chương trình thạc sĩ tại đại học Iowa, nơi tôi tìm thấy thời gian và động lực để viết những truyện ngắn trong The Boat.

Truyện ngắn có điều gì cuốn hút anh so với thơ và tiểu thuyết?

Dĩ nhiên thơ có thể viết theo lối tự sự, và theo lối tiểu thuyết nhưng nhìn chung hai thể loại này đặt ngôn ngữ vào những yếu tố khác nhau. Truyện ngắn, theo tôi, phù hợp với việc chuyển đổi giữa những yếu tố đó. Những gì tiểu thuyết làm được thì truyện ngắn cũng làm được, ngoại trừ việc viết dài. Ngược lại, người ta cho rằng so với tiểu thuyết, truyện ngắn sẽ kết hợp tốt hơn với những phép logic thơ như thu gọn, tỉnh lược, liên kết, khả năng tu từ… Khi đó, mặc dù truyện ngắn ngắn hơn tiểu thuyết, tôi vẫn thích khả năng cô đọng của chúng. Chúng có thể kể một câu chuyện đồng thời vẫn mang đặc điểm riêng của thơ ca là ý tại ngôn ngoại. Tôi thích mọi thứ, kể cả những sai sót, phải được nêu bật trong truyện ngắn. Tôi muốn độc giả phải được thuyết phục để chìm đắm sâu hơn vào tác phẩm, mặc dù họ biết là sắp kết thúc đấy. Tất cả điều đó khiến truyện ngắn mang tầm vóc cao hơn.

Truyện đầu tiên trong tuyển tập của anh được cố ý viết theo lối bán tự truyện và những truyện còn lại kể về những nơi chốn và nhân vật ít tương đồng với anh hoặc phông văn hoá của anh. Anh có nghĩ việc ẩn danh là quan trọng với người viết?

Tôi đã nghe David Simon, tác giả của show truyền hình nổi tiếng The Wire, nói về điều đó. Anh ấy nói về ý tưởng của mình là lấy những tay nghiện ngoài đời làm “hiện thực” cho tay nghiện trên màn ảnh, những tay cớm ngoài đời cho tay cớm trong hư cấu. Tôi đã nghĩ rằng đó là một sự trung thành vô đối cho những gì anh ấy đã sáng tạo, nhưng điều đó (một cách chừng mực) đã làm thiếu đi độ phức tạp của sự giống thật, của kĩ xảo và tính xác thực. Hơn nữa, như thế chưa đủ. Anh không muốn chỉ những tay nghiện mới nhận ra mình trong chân dung của một tay nghiện hư cấu, mà anh muốn mọi người đều nhận ra bản thân họ. Anh cần phải giữ khoảng cách giữa nhận dạng tuyệt đối và sự thấu cảm bởi đó là mục đích đạo đức của việc hư cấu. David Simon hiểu như vậy, và đó là lý do tại sao chương trình của anh ta quá xuất sắc.

Về mặt lý thuyết, tôi thật sự tin vào lời khuyên mẫu mực của T.S. Eliot về việc đoạn tuyệt tính cách của chính tác giả cũng như câu nói lịch thiệp của Flaubert “Bà Bovary? Đó là tôi!” Tôi không chắc cách nghĩ đó ảnh hưởng thế nào đến tôi, với câu hỏi này.

Nhân vật nào trong The Boat khiến anh khó viết nhất và tại sao?

Tôi nghĩ, một cách đủ tỉnh táo, rằng “Nam” trong truyện đầu tiên chính là nhân vật khó viết nhất. Như những ai đã đọc cuốn sách có thể nhận thấy, tôi thật sự rất khó thoát khỏi sự tự ý thức trong khi viết, do đó rất khó để đặt một nhân vật với tên và hoàn cảnh của tôi vào trước và trung tâm câu truyện.

Điều khiến tôi nhọc công hơn nữa là cái bản thân tôi, tức là, cái tôi được bổ trợ hoàn toàn bởi tính cách chủ quan của tôi, do luôn phải tìm lời giải thích cho trải nghiệm của bản thân có sức thuyết phục hơn, âm vang hơn so với những độc giả chỉ có thể đọc câu chữ của tôi trên trang giấy. Theo lối đó, việc viết từ tự truyện có thể trở thành một sự đương đầu ích kỉ. Và là một nhà văn, thật không dễ để biến câu chữ trên trang giấy trở nên thuyết phục và gợi mở với độc giả, vốn là số đông chứ không chỉ riêng người viết.

Điều gì khiến anh viết nên truyện Cartagena?

Sáu năm trước tôi đến Colombia (mặc dù không phải đến Medellin, nơi câu truyện xảy ra). Tôi đặt chân đến Cartagena, nơi một trong những thứ tôi chứng kiến đã trở thành hình ảnh kết truyện. Ba năm sau (và sau hàng loạt biến cố khác), tôi quyết định viết câu chuyện về một tên sát nhân thiếu niên. Đó là một trong những điều thật khó tin. Nó làm cho bạn nhức nhối và ngày càng lượn lờ trong đầu bạn. Tôi đơn giản là đã bị cuốn vào nó. Về điểm này thì tôi không biết nhiều lắm, vì nó có thể xảy ra ngay cả ở Colombia chẳng hạn. Một phần diễn biến được xử lý bằng kĩ thuật: tôi chỉ viết “The Boat” (truyện cuối cùng trong sách) bằng một giọng văn chậm rãi, tự sự kéo dài theo lối viết cổ điển, đặt nhân vật nữ chính vào ngôi thứ ba. Sẽ là không tồi với một cây bút trẻ khi bắt đầu bằng một tác phẩm thuần khiết, nhuần nhị và phóng đãng.

Tôi đã từng nói ở đâu đó rằng truyện này bắt đầu bằng việc đi tìm một giọng văn. Tình thế rất rõ ràng: đó là một tên mười-bốn-tuổi chứ không phải đứa con nít. Nó xứng đáng nhận được hơn lòng thương hại, sự thu hút, hay phẫn nộ của người đọc, hơn cả sự miêu tả tường tận tình thế của nó. Thằng bé xứng đáng được lắng nghe. Những mẩu chuyện khác nhau cho chúng ta nhìn qua những lăng kính khác nhau: ở đây câu chuyện cần phải có, trước nhất và tiên quyết, một giọng văn cụ thể.

Vì thế tôi đi sâu vào nghiên cứu. Tôi đọc mọi thứ có thể có: sách, văn bản luật, luận văn nghiên cứu xã hội, tài liệu mua bán ma tuý và vũ khí, các blog du lịch, báo cáo về NGO. Tôi tìm tranh ảnh trong những cuốn sách, tạp chí, trên mạng. Tôi thử những bố cục khác nhau (một lần, câu chuyện thay đổi cách nhìn giữa Ron, Hernando và một gã Tây tình nguyện viên NGO). Tôi chọn được nhân vật chính, cách diễn đạt và giọng văn. Sau đó tôi xây dựng cốt truyện, rồi viết bản thảo. Đó là lúc phản hồi của người đọc rất cần thiết. Họ giúp tôi vạch ra những lỗ hổng trong cốt truyện. Đôi lúc việc dựng truyện giống như đi vào cái cụ thể: ai được biết những gì, vào lúc nào? Những ai có những động cơ nào, tại sao lại thế? Tôi nhận ra nhiều lỗ hổng. Sau đó tôi sửa lại một cách thật tốt có thể, rồi khoét thêm những lỗ hổng mới, và sửa một lần nữa. Truyện được đăng bởi một tạp chí, sau khi được hiệu đính chỉn chu, và rồi được một nhà xuất bản chấp nhận và họ biên tập lại một lần nữa. Và một số lần sau đó.

Anh có truyện ngắn nào yêu thích không?

Tôi không có. Nhưng gần đây tôi bị ấn tượng bởi những truyện của Charles D’ Ambrosio trong tuyển tập The Dead Fish Museum.

Dịch từ Times Online

Categories

Archives