Vãi chưởng

Bài này tôi post trên sachxua.net để tán phét về giải Nobel văn chương năm nay.

-=-=-=-=

Tán phét cho vui cái :D . Em nghĩ nên dự đoán bằng cách loại trừ thay vì bốc đại vài cái tên nào đấy theo kiểu đãi cát tìm vàng, vì thông thường chủ nhân giải Nobel văn học cũng không vàng chóe lộng lẫy lắm đâu hehe

Các bác tưởng tượng Viện hàn lâm Thụy Điển giống như một nhà cái lớn được các bác tay to điều khiển, còn tiền cược chính là niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta. Chúng ta càng gọi to tên ai, họ càng thích lấy bút gạch tên người đó và bảo: Quên đê!!! Các bác thấy không, mười mấy năm trở lại đây, winner đều là họ, và loser mãi mãi là chúng ta, những độc giả chân chính và nhiệt thành và mang trái tim nóng hơn là một cái đầu lạnh. Nên các bác phải cố làm sao lần này trở thành winner cho nó mấu. NL chưa gì đã bàn lùi vì năm nào cũng đoán trật, năm nay akay =))

Theo phương pháp loại trừ, em nghĩ đến vài nguyên tắc:

(1) không phải Mỹ: Philip Roth, Thomas Pynchon, Don DeLlilo, Joyce Carol Oates… các vị này ở trong danh sách quá lâu rồi mà chưa bao giờ đậu nên chúng ta hãy tạm quên đi, công việc dự đoán vì thế sẽ nhẹ đi rất nhiều. Các nhà văn Mỹ thế hệ sau Roth, Pynchon… cũng loại luôn vì các cây đa cây đề còn không được giải thì các cháu tuổi nào mà đụng vào. Bởi vậy các bác gần Mỹ mà không phải Mỹ năm nay có thể được cơ cấu: Alice Munro, Atwood…

(2) không quá nổi tiếng và dễ đoán như Murakami Haruki. Thế thì chán lắm ạ, em nói thật. Cuốn nào của bác í cũng dịch hết rồi.

(3) không hướng Âu vì mấy năm nay giải trao cho châu Âu nhiều rồi. Bác nào có hơi hướng châu Âu kiểu như Pamuk cũng loại luôn.

(4) nhà văn ư? chưa chắc, năm nay có thể là nhà thơ. Chiếu theo nguyên tắc (2) thì có thể loại Adonis và Ko Un. Bởi nếu Adonis đoạt giải đúng theo nguyên tắc chính trị hóa Nobel văn học thì lại có khối kẻ la lên: Đấy, thấy chưa, tôi đoán có sai đâu! Và đó là điều Viện hàn lâm Thụy Điển không dễ dàng chấp nhận. Les Murray có thể lắm. Và tại sao không phải nhà phê bình nhỉ? Harold Bloom hay David Lodge hay Umbero Eco chẳng hạn (hai trường hợp sau thì nhập nhằng).

(5) ở nơi càng ít người nghĩ đến càng tốt. Chiếu theo nguyên tắc (2) thì các bác í không chọn Carlos Fuentes đến từ Mexico đâu. Amitav Ghost (Ấn Độ) có thể lắm nếu xét theo tiêu chí phải là: vừa trao giải xong là có khối kẻ nhảy dựng lên phản đối. Hoặc có thể là châu Phi (Chinue Achebe chẳng hạn, còn Ngugi với Thiong’O có người dự đoán rồi, mơ đi!). Trung Đông thì không thể là Amos Oz mà phải là David Grossman.

-=-=-=-=

Hóa ra nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất: Thụy Điển. Vãi chưởng!

Harold Bloom

Harold Bloom là một idol của tớ trong phạm vi academic, tất nhiên là bác này không thi American Idol hehe. Giảng dạy ở Yale, trong thập niên 1970 Harold Bloom đã làm việc cùng và có thể nói là hợp tác gần gũi với những người thuộc trường phái Yale (nhóm này còn được gọi bằng cái tên ‘the hermeneutic Mafia’) gồm những người như Paul de Man, Geoffrey Hartman, J. Hillis Miller và cả Jacques Derrida. Tuy thực tế cả năm người đã cùng viết cuốn Deconstruction and Criticism (1979) nhưng ông, và Hartman, tự coi mình không phải những người theo thuyết giải cấu trúc, thậm chí còn công khai cách ly mình khỏi những nguyên tắc và phương pháp của giải cấu trúc luận.

Lối phê bình của Bloom chịu một phần ảnh hưởng của Freud, nhưng không phải Freud kiểu Lacan hay bất cứ người nào. Phong cách Harold Bloom là một phong cách đặc thù Harold Bloom. Ông có mối quan tâm lớn đến truyền thống thi ca Anh và Mỹ, đặc biệt là thi ca thời kỳ Lãng mạn và hậu Lãng mạn. Trong phần giới thiệu về Harold Bloom trong cuốn Modern Criticism and Theory: A Reader, David Lodge nhận xét: Theo Bloom, những nhà thơ lớn có nghĩa vụ xác định tính độc sáng [originality] trong tác phẩm của họ, tách khỏi các thành tựu của các nhà thơ tiền bối hay là những hình bóng-người cha (trong mô hình phức cảm Oedipus của Freud). Các nhà thơ thế kỷ mười chín và hai mươi bị tác động bởi “nỗi lo lắng bị ảnh hưởng” đầy kịch liệt và cái “cảm giác đến sau”. Khắc phục được sự què quặt này đòi hỏi việc “đọc trệch đi” [misreading] hay “nắm trệch đi” [misprison, tức là mis-taking] người đi trước”.

Bộ bốn cuốn lý thuyết của Bloom là The Anxiety of Influence (1973), A Map of Misreading (1975), Kabbalah and Criticism (1975) và Poetry and Repression (1976). Đó là Bloom nhà phê bình. Ngoài ra Bloom còn đi nhiều đường cơ bản về các tác giả từ cổ điển (trong The Western Canon) cho đến hiện đại (Novelists and NovelsShort story writers and Short stories). Hồi còn đi học ;) ) tớ có hí hoáy vẽ cái này, giờ đọc lại chả hiểu gì.

Harold Bloom sketch

Dưa Chuột Khoe Bao Tử Trộn Sô Cô La

Hôm qua lạc vào Sách xưa xem kệ sách của các nhà sưu tập phê tĩ tã. Chốn hay ho thế mà giờ mới vào được đúng chỗ cần vào. Nể các đồng chí trong đấy thật. Đa số còn trẻ, nhưng lòng đam mê sách thì mãnh liệt quá, mua bán rồi trao đổi sách cứ gọi là ầm ầm như lướt sóng chứng khoán. Cũng có một thời tớ lùng tìm sách cũ, đấy là hồi đi học. Quả thực tớ có những cuốn sách toán rất độc mà giờ nói ra chỉ có những người từng học chuyên toán và tuổi tớ đổ về trước là biết thôi. Bây giờ học sinh học chương trình mới cả rồi, với lại cứ kiếm sách tiếng anh mà phang có khi còn hay hơn. Dù sao, hôm nào tớ sẽ lục lại đống sách toán và bốt hình cho đỡ phí :D . Continue reading

Lí Tưởng Về Một Sự Đơn Sơ Vô Tội

Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh, NXB Phụ nữ 2008), thoạt nhìn, có vẻ là những trang viết rất mượt mà, sinh động và thắm đượm tình cảm về thời thơ ấu, về các thành viên trong gia đình. Cùng với đó, là sự tái hiện một vài thời điểm lịch sử mà tác giả với tất cả niềm may mắn như một nhân chứng ngây thơ và vô sự đã chứng kiến. Tương tự cô bé con “ngồi trên một chiếc đòn nhỏ nhìn ra sân, các hạt mưa rơi xuống ngày càng nhanh và chạy vùn vụt” , nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” quan sát các sự kiện, biến cố, cùng các nhân vật trong và ngoài gia đình bằng một cái nhìn rất đỗi hồn nhiên, vô tư, như thể tất cả điều đó trở nên trong veo qua những hạt mưa-một lăng kính. Continue reading

Simone de Beauvoir và Phái Tính Thứ Mấy?

Simone de Beauvoir ngoài là một tiểu thuyết gia, một nhà ủng hộ nữ quyền, còn là người viết tự truyện xuất sắc. Ngay cả các tiểu thuyết của bà cũng mang dáng dấp của hồi ức. L’Invitée (1943) hư cấu hóa cuộc gặp gỡ giữa Beauvoir, Jean-Paul Sartre và Olga Kosakiewicz, học trò của bà. Các nhân vật trong Les Mandarins (1954) đều có phần sao phỏng từ những con người thật, như Beauvoir, Sartre hay Camus…, và truyện cũng thể hiện khuynh hướng chính trị cánh tả của Beauvoir. Trong La deuxième sexe, bà kể lại việc là một phụ nữ mang một ý nghĩa như thế nào. [Tại sao các tác phẩm của bà luôn có một độ chênh giữa khi hoàn thành và khi được in, hay ngay cả khi được dịch? L’Invitée được viết trong khoảng 1935-1937 trong lúc Sartre bắt đầu viết L'étre et le néant, và cả hai cuốn đều được xuất bản năm 1943. L’Invitée mãi đến 1984 mới được dịch sang tiếng Anh, La deuxième sexe (1949) phải đợi đến 1968 và La Force de l'âge (1960) năm 1973. Và phải nói là phần thư tịch về Beauvoir trong Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước sai thời gian trầm trọng.] Continue reading

Categories

Archives