Nghệ thuật phân kỳ hay hội tụ

Nghị quyết siết hộ khẩu đối với người nhập cư vừa qua của một tỉnh khiến tôi liên tưởng đến truyện Bản du ca cuối cùng [của loài người không còn đất sống] của Erich Maria Remarque. Đối với tôi Remarque xứng đáng được xếp vào hàng tác giả “cổ điển” bởi ông là bậc thầy về khắc họa nhân vật, sắp đặt tình huống và ông đặt ra (thỉnh thoảng còn tuyên ngôn luôn) những vấn đề phổ quát về thân phận con người. Nạn phân biệt người Do Thái ở châu Âu (tôi dùng từ rất nhẹ) trong lịch sử hiện đại là bài học thấm thía, là sự phản tư dành cho những người trong cuộc về sắc tộc, màu da, căn tính, sự tước đoạt và nỗi thống khổ. Tác giả tài tình ở chỗ ông cô đọng các “thông số” đó vào một cuốn truyện tương đối vừa vẹn cho một bộ phim điện ảnh. Tôi thường quan tâm đến những tác phẩm có bố cục điện ảnh. Và sẽ trở lại điều này sau, nhưng tôi có một nhận xét thế này, các tác giả và đạo diễn phương Tây (như Remarque, Kundera hay Lars von Trier) thường có tư duy phân kỳ, tức là dùng những cái nhỏ (sự mất nơi ở, nỗi u uất) để nêu lên những điều phổ quát (mất căn tính, vô tri, sự tận thế); còn các tác giả và đạo diễn phương Đông (Farhadi, Cao Hành Kiện, Murakami) thường có xu hướng tiết giảm những cái to tát (xác tín, dị biệt, bất bình đẳng, đổ vỡ) thành những vấn đề mang thuộc tính dân tộc. Nhận xét này chỉ tương đối vì tôi mới nghĩ đến một cách sơ bộ.

Bản du ca cuối cùng kể về một người thanh niên người Đức nhưng do bố có gốc Do Thái nên bị tước quyền công dân Đức, đành phải đi lưu vong sang hết nước này đến nước nọ miễn là được cấp cho giấy thông hành trong vòng mươi mười lăm ngày. Sau thời hạn đó thì phải đến báo với nhà chức trách để được tống cổ trên danh nghĩa sang một nước khác, nếu không muốn bị tù vài tháng và vẫn bị tống cổ. Nếu trở lại một nước nào đó lần thứ ba hay thứ tư thì bị phạt tù, trục xuất và cấm đặt chân trở lại. Trong tình trạng mất nơi ở thường trực như vậy thì ngay cả tình yêu cũng trở thành quá xa xỉ và cái chết trở nên quá thường như cân đường hộp sữa. Cái phổ quát trong truyện theo tôi là thế này: chúng ta không thể tưởng tượng nổi tình cảnh cách đây dăm chục năm tệ hại thế nào, nên hãy coi chừng cái thời bây giờ mình đang sống.

Farhadi là một đạo diễn tiêu biểu người Iran. Phim A separation (Một cuộc li dị) của ông có lẽ sẽ kèn cựa với Melancholia (Hành tinh u uất) của Lars von Trier để tranh giải Oscar phim nước ngoài hay nhất 2012 [đoạn này nhầm; phim Melancholia nói tiếng Anh]; có lẽ thôi, dù sao đây là hai phim tôi thấy hay nhất trong năm qua. Cả hai đều nặng nề từ đầu đến cuối, A separation đi theo lối hội tụ và Melancholia đi theo lối phân kỳ như tôi đã nói ở trên. Nhìn rộng ra thì sự lựa chọn một trong hai phim sẽ trở về với cách phân biệt hai quan niệm rạch ròi tuy cũ nhưng còn lâu mới ngã ngũ: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Tôi nghĩ nhiều khả năng phim của Farhadi – tức nghệ thuật vị nhân sinh – sẽ thắng. Bởi nó đụng chạm đến chế độ đẳng cấp và phân biệt nam nữ ở quốc gia đạo Hồi, làm lung lay đến gốc rễ của lòng tin vào tín ngưỡng. Nó xóa đi khoảng cách giữa các dân tộc và trong nội bộ một dân tộc. Còn Melancholia, mặc dầu xuất sắc, nói về những thứ to tát mà con người hiếm khi cho phép mình được thư thả nghĩ đến.

Lars von Trier thông cảm với Hitler, điều đó dễ hiểu. Nhưng không phải ai cũng thông cảm cho sự thông cảm đó, bởi với nhiều người, được thông cảm đã là một điều xa xỉ.

Năm thứ-N hóa bướm

Những ngày cuối năm, cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành một dự án dịch đã ngốn của mình khá nhiều thời gian và tâm trí. Đơn giản là khi nào hứng chí tôi lại đặt ra cho mình cái mốc nào đó để vượt qua. Những cái mốc giống như các cột cây số nằm sầu lẻ bóng trong màn sương mù trên đường đi Đà Lạt, rất sau này nhìn lại bạn sẽ không hiểu nổi mình đã vượt qua chúng bằng cách nào. Tôi có tật hay quên, nhiều khi đọc lại những gì mình từng viết tôi cũng không hiểu ngọn gió nào đã khiến mình viết được như thế. Hoặc có thể hằng năm, hình như vào đông chí tôi lại dậy thì thêm một lần-một từ rất tinh túy. Mỗi lần như thế tôi lại cảm thấy mọi thứ sáng rỡ một cách ướt át như thể cánh bướm vừa ngóc mình ra khỏi vỏ kén thêm lần nữa thứ-n và sắp sửa hóa thành sâu.

Thành tựu thứ hai là cuối cùng tôi đã tu luyện thành công nghệ thuật nói nhảm. Sau nhiều năm khổ tứ đi tìm bản nguyên cho mình, tôi thấy rốt cuộc không những tôi mà bất cứ bạn đàn ông độc thân vui nhộn nào cũng đều nên luyện kĩ năng nói nhảm. Cái này nói thật. Bởi vì trải qua giai đoạn nói nhảm, các bạn sẽ biết hài hước đúng chỗ và quan tâm đúng độ. Nói nhảm còn giúp chúng ta bớt take things seriously, lạc quan, vui vẻ, bớt khắt khe và nhìn đời bao dung hơn. Hồi năm nhất có người gọi tôi là cây cười của lớp. Kể mà kiên trì đi theo con đường ấy có khi giờ này tôi đã có chân trong sân khấu kịch Phú Nhuận.

Năm vừa qua tôi xem được ngót hai trăm phim và đọc tử tế có lẽ chưa đầy mười quyển sách. Năm 2010 có nhiều phim hay: Confessions, The Fallen Angel [Nhân gian thất cách], Incendies, I saw the devil, Bi đừng sợ… Năm nay cho tới giờ tôi chỉ thấy ấn tượng nhõn Melancholia. Luôn có một cái gì ngược chiều trong phim của Lars von Trier. Giống như khi khoa học vừa chứng minh ra một con quác quác nào đấy bay nhanh hơn ánh sáng, thì ở đây bộ phim là một ám ảnh chậm rãi kéo người xem quay ngược về phía nội tâm của mình, kéo trái đất quay ngược lại từng tích tắc trước khi nó bị hành tinh U uất ăn thịt. Một mãnh lực làm trở ngược mọi thứ vốn chông chênh. Anh chồng cứng cỏi tự vẫn trong chuồng ngựa. Cô em xinh đẹp bất định bỗng nổi hứng làm “cô gái cao bồi” với một anh ngẫn vừa mới gặp. Phim gợi ý cho chúng ta một giả thiết tương đối hoang mang, rằng khởi nguyên của vũ trụ là một nỗi cô đơn phân kỳ.

Thành thực mà nói, hễ nhắc tới bướm tôi lại nghĩ tới Nabokov. Nguyên nhân sâu xa để viết nên một Lolita trác tuyệt và vi diệu, có lẽ vì Nabokov là một nhà nghiên cứu bướm.

Bị bỏ rơi trong sự phù phiếm tanh tưởi

Trước tiên là vài ý kiến tiếp tục ủng hộ YXineFF. Đã nhận được email phản hồi, may quá cứ tưởng hộp thư của mình bị trục trặc cái gì. Về bình chọn phim qua mạng thì tôi nghĩ thế này. Sau cơn địa chấn Vịnh Hạ Long, chúng ta cũng thấy rằng bình chọn online là một công cụ dễ dẫn tới bạo động hehe. Bởi vậy nên cải tiến món này sao cho nó công bằng được tới đâu thì tới. Tôi có góp ý với anh Marcus là thay vì chỉ để nút bình chọn, thì nên vừa để nút like và unlike, vì có phim người này thích nhưng người kia lại không thích, và cũng cần có không gian cho người không thích chứ. Phương án 2 là bình chọn theo thang năm ngôi sao. Một điều nữa để nâng tính công bằng cho cuộc chơi là nên phân chia thể loại phim, ít nhất cũng phải tách các phim hoạt hình sang một hạng mục tranh giải khác. Các phim hoạt hình thường được nhiều người thích hơn, vì các nhân vật thường kute với mignon các kiểu.

Chuyện thích hay không thích tù mù cảm tính lắm, nên phải để người xem lựa chọn công bằng. Tôi nảy ra suy nghĩ này sau khi xem phim thứ hai, Ngày chủ nhật bình thường, và hic tôi thấy… không hay :( Thứ nhất, casting có vẻ không ổn. Nếu chọn cậu bé kia thì không nên chọn Hồng Ánh, vì khác biệt quá lớn, xem cứ như không phải hai mẹ con ấy. Giọng, âm điệu, phong thái… quá khác nhau. Hai là cách quay phim hơi… bừa bãi, cảm giác như phim có mười lăm phút mà ông quay phim thể nghiệm đủ mọi kiểu quay mới lạ í. Thế nên cần sự điềm đạm trong quay phim hơn. Về nội dung tôi không thấy ấn tượng, nhưng như thế là ổn rồi. Nói chung, chỉ cần không cầu kì cách điệu nâng tầm triết học như bây giờ người ta vẫn tìm cách là ổn rồi. Một nội dung an toàn có thể đảm bảo cho sự thăng tiến ổn định của những phim sau. Một phần rất quan trọng là closing credits thì những người làm phim lại không để ý đúng mức và làm hơi xuề xòa, chẳng hạn “Anh” này viết hoa còn “anh” kia không viết hoa, và “anh” với “chị” không hiểu là để ai xưng hô.

Hôm qua tôi định giật quả Sụp đổ thần tượng (2) nhưng sợ bị ném đá tiếp nên chỉ dám rón rén mở một khoảnh vườn nhỏ. Vừa đi xem The Last Emperor màn ảnh rộng. Sau khi xem một số phim của Bertolucci và đặc biệt thích The Dreamers vì cách nhìn mới lạ với cuộc cách mạng tháng Năm ’68, tôi đã định trao cho ông giải Bật lửa vàng trọn đời. Nhưng phim Hoàng đế cuối cùng quả là một sự đánh mất mình thê thảm. Trước tiên chúng ta cũng phải hiểu là một bộ phim nói về Phổ Nghi kéo dài từ cách mạng Tân Hợi cho đến cách mạng Văn hóa, được tùy ý sử dụng Tử Cấm Thành và không nhận được sự chỉ trích hay kiểm duyệt đáng kể nào từ Bắc Cực, hẳn phải có một cái gì đó. Xác tín chính trị nhiệt thành từ The Conformist đã tắt ngấm, tôi chỉ thấy ở đây không hơn một ảo giác chính trị. Ảo giác chính trị xuất phát từ ảo vọng thăng hoa. Rõ ràng ở góc độ nào đó Bertolucci đã đạt được thành công vô đối khi điểu khiển một đạo quân làm phim binh hùng tướng dũng đến từ phương Tây làm mưa làm gió ở Tử Cấm Thành suốt mấy tháng trời. Nhưng tôi chỉ thấy một đạo diễn tài ba đã đánh mất mình. Có nhiều kiểu đánh mất, nhưng cái mất này bao giờ cũng là mãi mãi.

Còn một phim khác cũng liên quan đến ’68 nhưng là mùa Xuân Prague. Tên phim thì quen thuộc quá rồi dù cho đến giờ tôi vẫn không biết tìm bản tiếng Việt cuốn này ở đâu: The Unbearable Lightness of Being (1988).

Categories

Archives