Category: Features

Hồi Ức Lính Xô Viết trong Chiến Dịch Mãn Châu 1945

By Gia Vũ, December 19, 2009 8:16 PM

Năm 2004, bên box Kĩ thuật quân sự nước ngoài - TTVNOL có một topic rất hay dài đến hơn 100 trang về hồi ức của lính Hồng quân Liên xô trong WW2. Các hồi ức ban đầu được anh Lý Thế Dân dịch từ tiếng Anh ở trang này. Bây giờ không còn tìm thấy link bên TTVN, chỉ còn link này. Tập hồi ức được in thành sách năm 2007 có tên “Kí ức chiến tranh” (NXB Văn hóa Sài Gòn). Tớ cũng có dịch một số hồi ức của lính Xô Viết trong chiến dịch Mãn Châu 1945 (ngoài cuốn sách), từ trang này. Do cách đây khá lâu nên hiện chỉ còn tìm thấy vài phần. Continue reading 'Hồi Ức Lính Xô Viết trong Chiến Dịch Mãn Châu 1945'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Phiên Âm Tiếng Tàu của Con Chồn là gì?

By Gia Vũ, December 9, 2009 10:57 PM

Những ai từng đọc những văn bản trước đây ở miền Bắc sẽ để ý người ta thường phiên âm tên riêng tiếng nước ngoài, cụ thể là tiếng Anh, sang tiếng Việt.

Nhiều từ ngày nay vẫn còn sử dụng như  tên của các nước: Nhật Bản (Japan), Mông Cổ (Mongolia), Đan Mạch (Denmark), Phần Lan (Finland), Ai Cập (Egypt), Miến Điện (Myanma), Ấn Độ (India)… trong đó tên một số nước được rút gọn chỉ còn âm đầu như Nga La Tư (Russia), Pháp Lan Tây (France), Đức Quốc (Germany), Bỉ Lợi Thì (Belgium), Áo Địa Lợi (Austria)…; tên các thành phố: Luân Đôn (London), Mạc Tư Khoa (Moscow), Hoa Thịnh Đốn (Washington)… Continue reading 'Phiên Âm Tiếng Tàu của Con Chồn là gì?'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Khi Xưa Ta Bé

By Gia Vũ, November 11, 2009 7:15 AM

Nhân ngày sinh Kurt Vonnegut. Bài này dịch từ chương đầu cuốn A Man Without A Country (2005). Bài cũ về Vonnegut ở đây.

*

Khi còn bé tôi là thành viên nhỏ tuổi nhất trong gia đình, và đứa trẻ nhỏ nhất trong gia đình nào cũng luôn là đứa hay bỡn cợt, bởi đùa cợt là cách duy nhất để nó có mặt trong cuộc nói chuyện của người lớn. Chị tôi hơn tôi năm tuổi, anh tôi hơn tôi chín tuổi và ba mẹ tôi đều là những người hay nói . Thế nên khi còn nhỏ xíu, tôi trở nên nhạt nhẽo trước mặt tất thảy người lớn trong bữa tối. Họ chẳng muốn nghe những tin tức trẻ con ngớ ngẩn thường nhật  của tôi. Họ muốn nói về điều thực sự quan trọng xảy ra ở trường cấp ba hoặc có thể là trường đại học, hoặc nơi công sở. Vậy nên cách duy nhất tôi có thể góp mặt vào  một cuộc nói chuyện là nói cái gì đấy thật nhộn. Tôi nghĩ ban đầu tôi chỉ tình cờ làm thế , chỉ là vô ý buông một câu chơi chữ khiến cuộc nói chuyện phải dừng lại, đại khái thế. Và rồi tôi nhận thấy nói đùa cũng là cách để xen vào cuộc nói chuyện của người lớn. Continue reading 'Khi Xưa Ta Bé'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Bài Học Của F.D.R Cho Obama

By Gia Vũ, June 29, 2009 10:57 PM

Đọc lại Di sản của Abraham Lincoln

Thật không may cho nhiều học giả và diễn giả đầy cảm hứng là ý nghĩa của từ crisis trong tiếng Trung Quốc không phải được ghép lại bởi hai thành tố danger (nguy hiểm) và opportunity (cơ hội) [crisis mặc dù dịch là khủng hoảng nhưng tiếng Tàu là 危机, tức nguy cơ – ND]. Tuy vậy, sự hiểu lầm thường thấy đó vẫn ẩn chứa một sự thực quan trọng được ẩn dụ: dù mang theo những hiểm họa thế nào chăng nữa, cuộc khủng hoảng vẫn có thể là một cơ hội to lớn. Và Franklin D. Roosevelt là một trong số những người đã hiểu được điều đó. Continue reading 'Bài Học Của F.D.R Cho Obama'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Context, High and Low [2]

By Gia Vũ, June 21, 2009 4:36 PM

Ngược lại, những phiên tòa về dân sự ở Pháp mà tôi biết cho phép độ trễ trong việc xác định lời khai có phải là chứng cứ hay không. Quan tòa muốn biết càng nhiều càng tốt về những tình huống đằng sau hành vi phạm tội khiến người ta phải đứng trước vành móng ngựa. Tất cả đều chỉ là những tin đồn, tin truyền miệng. Quan tòa muốn biết những loại người nào dính dáng vào vụ án (thông thường ở Mỹ điều này không xảy ra trước khi buộc tội). Nói cách khác, phiên tòa ở Pháp có yếu tố context cao hơn ở Mỹ. Nghịch lý nữa là hệ thống của Pháp đặt quyền lực vào tay thẩm phán. Điều này cũng đúng với những khía cạnh khác của văn hóa Pháp có tính tập trung hóa cao [highly centralized], nhưng nó làm mất đi một yếu tố để cân bằng context. Ở Mỹ, pháp luật có thể low-context nhưng bồi thẩm đoàn thì không. Xin nhắc lại là tôi không có ý định đưa ra nhận xét rằng hệ thống nào tốt hơn, chỉ là chúng không những khác nhau mà còn tượng trưng cho văn hóa của nước đó và nhiều thứ khác. Continue reading 'Context, High and Low [2]'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Di sản của Abraham Lincoln [P.2]

By Gia Vũ, June 1, 2009 11:10 PM

Phần 1

Oakes xứng đáng nhận được tán thưởng cho việc làm rõ tư tưởng của Lincoln về vấn đề sắc tộc và nô lệ bằng cách đặt quá trình nhận thức của Lincoln vào một diễn tiến thời gian. Từ năm 1837, khi còn phục vụ cho cơ quan lập pháp bang Illinois, Lincoln đã lên án cái thể chế phân biệt ấy. Ông tin rằng chế độ nô lệ là hủ bại và nguy hiểm, một ung nhọt trong thể trạng chính trị. Sau khi nước Mỹ đánh bại Mexico năm 1848 và giành phần đất đai rộng lớn ở phương Tây, Lincoln một mực cho rằng không nên để cho chế độ nô lệ lan rộng. Cũng vào thời gian đó, ông tranh cãi rằng chính phủ liên bang không có quyền điều chỉnh tình trạng nô lệ ở nơi nó đang hiện hữu. Mặc dù vậy, đến cuối những năm 1850 Lincoln bắt đầu lo lắng rằng tầng lớp chủ nô hung hãn đang gia tăng sẽ là một nguy cơ cho sự sinh tồn của đất nước. Trong bài diễn văn House Divided, Lincoln đã nhắc lại vụ việc về đạo luật Kansas-Nebraska và phán quyết bất lợi của Tòa án tối cao cho Dred Scott. Tuy vậy, ông vẫn ủng hộ chính sách thực dân hóa, cho rằng sau khi bãi bỏ tình trạng nô lệ, những người được tự do nên trở về châu Phi. Như Oakes viết, “Ông cho phép sự phân biệt sắc tộc bởi đó là điều hầu hết người da trắng muốn”. Đến năm 1858 dù cá nhân ông không cho rằng người Mỹ gốc Phi là hạ đẳng so với người da trắng, Lincoln vẫn là một người phân biệt chủng tộc theo lối dân chủ. Người dân chỉ muốn người da đen đứng ở nấc cuối cùng trong thang bậc sắc tộc của nước Mỹ. Năm ấy Lincoln tranh cử vào Thượng viện như là một “white supremacist”. Continue reading 'Di sản của Abraham Lincoln [P.2]'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Di sản của Abraham Lincoln [P.1]

By Gia Vũ, May 30, 2009 11:55 PM

Vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kì có ý nghĩa gì đối với Obama và những người khác? Điểm những cuốn sách về Abraham Lincoln nhân 200 năm ngày sinh của ông. Dịch từ

Ngày 10 tháng Hai năm 2007, Barrack Obama khi đó còn là một nghị sĩ tương đối lạ lẫm ở thượng viện Mỹ đứng trên bậc của tòa statehouse bang Illinois. Đám đông hàng nghìn người chống chọi trước giá rét của mùa đông để nghe ông diễn thuyết. Mở đầu Obama hâm nóng bầu không khí bằng những mẩu chuyện đầy cảm hứng từ tiểu sử của mình. Đến thông điệp chính, ông nhắc đến một trong những chương chính yếu nhất trong lịch sử chính trị của nước Mỹ: “Trong bóng râm của tòa Old State Capitol, nơi Lincoln từng kêu gọi người dân trong ngôi nhà bị chia cắt (house divided: tên bài diễn văn của Lincoln – ND) đứng lại cùng với nhau, nơi những niềm hy vọng và giấc mơ chung luôn còn mãi, hôm nay tôi đứng trước các bạn để thông báo sự ứng cử của mình cho chức Tổng thống của nước Mỹ”. Khi đám đông chúc mừng và hô hào tên ông, Obama liên tục gợi lại những kí ức về Lincoln: sự trưởng thành từ một tầng lớp tầm thường của vị tổng thống thứ mười sáu, tính kiên trì, và sự tập trung không ngừng vào việc thống nhất lại đất nước bị chia rẽ bởi tình trạng áp bức dân nô lệ, bởi địa phương chủ nghĩa và sự ly khai ở phía Nam. Obama kết thúc bằng một sự tôn kính nữa với Lincoln – ám chỉ đến bài nói xuất sắc nhất của ông, the Grettyburg Address – khi kêu gọi những người ủng hộ sẽ giúp ông “mở ra sự khai sinh mới cho tự do trên Trái đất”. Continue reading 'Di sản của Abraham Lincoln [P.1]'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Kim Jong Un - Lãnh tụ tương lai của Bắc Hàn?

By Gia Vũ, May 28, 2009 4:35 PM

Những động thái trêu người trong những ngày qua của Bắc Hàn, kể cả việc đe dọa sẽ tấn công Nam Hàn, dường như thể hiện sự thất bại bước đầu trong chính sách mềm mỏng của Obama đối với quốc gia hạt nhân này. Cuộc chiến giữa Mỹ và Bắc Hàn (nếu có) quả là rất không cân sức nhưng tổn thất đối với cả bán đảo Triều Tiên là không lường trước được. Kim không phải là Saddam Hussein vì Kim có vũ khí hạt nhân và nói theo ngôn ngữ vỉa hè là… Kim bị điên. Bởi vậy có lẽ nên tiếp cận vấn đề Bắc Hàn theo một hướng khác. Đó là về người có thể sẽ trở thành lãnh tụ tương lai của đất nước này, Kim Jong Un, con trai út (chính thức) của Kim Jong Il. Phần sau đây phỏng dịch một bài trên The Times Online cách đây vài tháng. Continue reading 'Kim Jong Un - Lãnh tụ tương lai của Bắc Hàn?'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.3]

By Gia Vũ, May 10, 2009 3:30 PM

Phần 2

Priam trong truyện của Malouf đã bỏ qua những điềm báo ấy. Ông đáng nhận một sự mạo hiểm, và ông đã vượt qua được, bởi thứ ông nhận được không phải là điều khiếp sợ mà Hecuba đã cảnh báo mà là thứ quyền lực đạo đức mới, đưa con người trở về mặt đất, che mắt họ lại và cả cản trở cơn giận dữ giết chóc của Achilles. Thỏa hiệp là bản chất của con người, và đi cùng với nó là cảm giác của chúng ta về tính có thể hoán đổi. Achilles trong phim của Petersen, trong khoảnh khắc thống thiết nhất của bộ phim, nức nở trước thây của Hector và gọi Hector là “người anh em” bởi biết rằng họ sẽ sớm gặp nhau ở thế giới bên kia. Achilles trong tuyện của Malouf thì yếu đuối vì một lý do khác. Chàng nhầm Priam với Peleus, người cha đã mất, và gục xuống đầu gối của ông ta mà khóc. “Hãy bước bằng sự cẩn trọng”, chàng không thể tiếp tục cư xử phi nhân tính. Continue reading 'Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.3]'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.2]

By Gia Vũ, May 9, 2009 3:19 PM

Phần 1

Homer, cũng như Shakespeare, sẽ luôn luôn là đề tài đương đại, nhưng liệu họ có là người đồng xứ với chúng ta [những người Úc]? Nhà thơ Peter Porter đã có lúc gắn nước Úc với Hy Lạp cổ đại trong một bài thơ nói lên suy nghĩ của ông khi đọc trường ca Hy Lạp Works and Days của Hesiod – vừa là sách hướng nông vừa là sách vỡ lòng của việc chế tác thơ – mà ông mua được ở một hội làng ở nước Anh. Cuốn sách cổ, dịch bởi George Chapman, với phần kể về Homer giới thiệu Keats đến “vương quốc vàng ròng”, khiến Porter cho rằng “dân Úc cũng như dân Boeotia [quê mùa, lạc hậu]”, tuýp nông dân nhàm chán, cứng đầu. Sự so sánh đó thật ra là một sự sỉ nhục đầy thực dân tính: những thị dân Athens khinh miệt những địa phận khác, coi Boeotia như vùng quê mùa thất học, vì vậy câu của Porter [một nhà thơ Anh gốc Úc] cho ta hiểu theo cách mà người Anh từng một thời đỏng đảnh tỏ ra khó chịu với người Úc. Còn Norman Lindsay lại muốn nhìn người Úc như những người Hy Lạp, những tín đồ pagan giáo [giáo phái tiền Thiên Chúa ở châu Âu] phóng đãng hạnh phúc, nhưng sẽ chính xác hơn và hợp thời điểm hơn nếu nói chúng ta [những người Úc] là những công dân thành Troy, những nạn nhân bị cào bằng của một cuộc chinh phạt, không phải về quân sự, mà là văn hóa. Continue reading 'Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.2]'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy

By Gia Vũ, May 8, 2009 10:43 PM

Về Iliad của Homer và Ransom của David Malouf

Định đề ở đây cũng đơn giản như trong câu đầu tiên chương Genesis của Kinh thánh [First God made heaven and earth], và còn khả tin hơn: từ thuở sơ khai, Homer đã sáng tạo ra văn chương. Ông đã làm việc đó, tức là nếu chỉ có một mình, với hai chiều phóng chiếu, hai thi phẩm nhìn về những tương lai văn chương khác nhau. The Iliad là bản anh hùng ca ban sơ của nhân loại, ngợi ca sự chiến đấu anh dũng và sự vẻ vang của trận đánh. The Odyssey bắt đầu khi trận chiến thành Troy đã kết thúc và kể về những hiểm nguy sau đó, đồng hành với nhân vật chính trong cuộc hành trình về quê hương, gợi ra một lựa chọn khác cho thể loại lãng mạn, kiểu không cần phải ngưng truyện khi nhân vật chết như hay thấy trong anh hùng ca mà mở ra trước biến cố và việc du hành, cho phép sự thám hiểm không giới hạn. Bởi vậy, những người viết sau này đã dành những dòng footnote về Homer, dù là tóm lược đầy ngờ vực cuộc chiến thành Troy như một vở kịch phóng đãng, như Shakespeare trong Troilus and Cressida, hay ngốn cả chuyến đi khắp Địa Trung Hải dài hàng mười năm của Odysseus vào chỉ một ngày ở Dublin, như Joyce đã làm với Ulysses. Continue reading 'Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy'»

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Chế Độ Toàn Trị Mới ở Miến Điện

By Gia Vũ, October 10, 2007 1:24 PM

Trong những tuần qua, đất nước Miến Điện vốn khép kín bỗng xuất hiện ở trang nhất các tờ báo trên thế giới, khi từ một nhóm nhỏ tăng ni xuống đường đã dâng lên thành cuộc biểu tình khổng lồ và mở màn cho cuộc trấn áp đẫm máu từ phía chính phủ quân phiệt.

Cuộc nổi dậy bất ngờ đã gây ngạc nhiên trong giới quan sát. Lý giải điều này, một số người viện cớ do giá nhiên liệu, vốn vẫn được bao cấp ở Miến Điện, tăng cao. Mùa hè này, chính quyền đã thả nổi giá xăng dầu, góp phần vào nền kinh tế ảm đạm của người dân Miến Điện.

Nhưng đằng sau cuộc nổi dậy đó là sự lý giải bao quát hơn, biến đất nước vốn bị cô lập này thành một phép thử quyết định về chính sách đối ngoại [của phương Tây]. Chính phủ junta [1] tàn bạo, vốn từ lâu nắm quyền lực bằng vũ trang và bằng nỗi khiếp sợ của dân chúng, đã tiến thêm một bước và trở thành một trong số ít chế độ toàn trị trên thế giới.

Gần đây, chính phủ này đã chuyển từ nhiều năm cai trị độc tài, kiểm soát chính trường nhưng vẫn cho phép tự do cá nhân ở mức độ nhất định, sang việc kiểm soát toàn diện hơn đời sống của người dân. Khi các chế độ toàn trị cáo chung ở nhiều nơi trên thế giới, Miến Điện vẫn tăng cường kiểm soát những gì còn manh nha của sự bất đồng chính kiến, tạo dựng tệ sùng bái cá nhân đối với lãnh đạo junta, và tự cô lập mình bằng việc dời thủ đô từ Rangoon đến một vùng xa xôi.

Biến chuyển đó khiến thế giới xa lánh một xã hội Miến Điện ngặt nghèo hà khắc. Trong nhiều năm, chủ nghĩa toàn trị xuất hiện như kẻ thù không đội trời chung của phương Tây, một thế lực kinh hoàng dẫn đến những cuộc thanh trừng Stalinist khổng lồ ở Nga, sự sùng bái cá nhân lạ thường ở Albania, và cuộc trừ diệt trí thức toàn diện kiểu Maoist ở Trung Quốc.

Tuy nhiên trong những năm sau chiến tranh lạnh, chủ nghĩa toàn trị đã tháo lui trên diện rộng. Với sự xuất hiện của điện thoại di động, truyền hình vệ tinh và mạng lưới Internet nhanh-rẻ, sẽ là không thể với bất cứ nhà cầm quyền nào nếu muốn tách biệt hoàn toàn người dân khỏi thế giới bên ngoài, hay thống lĩnh đời sống riêng tư của họ.

Ở Lào, nơi chính quyền cộng sản từng tạo dựng tệ sùng bái cá nhân với lãnh tụ cách mạng, người dân thành thị hiện nay đã có thể xem kênh truyền hình của Thái Lan đưa tin về đất nước họ. Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản tuy vẫn đàn áp bất đồng chính kiến có tổ chức, nhưng không còn lần theo mọi động thái của dân thường nữa. Nhiều người đã có thể mua nhà và có được một cuộc sống riêng tư ở một mức độ nhất định. Ngay cả ở Bắc Triều Tiên, hàng thập kỷ nay vốn tách biệt với bên ngoài, điện thoại di động giá rẻ xâm nhập qua đường biên giới với Trung Quốc đã làm xuất hiện những kẽ nứt nhỏ xíu trong chính quyền Kim Chính Nhật (Kim Jong-Il).

Tuy nhiên ở Miến Điện, junta kiểm soát theo hướng ngược lại. Những cuộc biểu tình tuần rồi ngay lập tức là tiếng nói phản ánh sự nghèo đói của người dân Miến Điện, nhưng chúng cũng gửi một dấu hiệu đáng chú ý vào thời điểm mà một nhóm các chính phủ, bao gồm Zimbabwe và Venezuela, đang để lộ những biểu hiện rõ nét của chính thể toàn trị, thiết lập tệ sùng bái cá nhân và thâm nhập vào đời sống riêng tư của người dân. Khi điều này nhanh chóng trở thành vấn đề chính trong Liên hiệp quốc và chính quyền Bush, Miến Điện sẽ chứng minh liệu những chế độ hà khắc như vậy có thể tồn tại được hay không.

Miến Điện bị kiểm soát bởi quân đội từ thập niên 1960, khi lực lượng vũ trang giành chính quyền bằng một vụ đảo chính. Quân đội duy trì sự kiểm soát chặt chẽ với những bất ổn chính trị. Trong làn sóng biểu tình rộng lớn ở Miến Điện lần cuối vào năm 1988, người ta tin rằng quân đội đã giết hại hàng nghìn người tham gia.

Sau năm 1988, junta tiếp tục duy trì chế độ độc tài, điều khiển chính trường và đàn áp dã man những người đối lập, trong đó nổi tiếng nhất là nhà lãnh đạo phong trào dân chủ Aung San Suu Kyi [2] . Tuy nhiên chính quyền vẫn duy trì quan hệ với một số tổ chức phi chính phủ, các chính phủ và các công ty nước ngoài, nhằm duy trì một số liên hệ giữa chính quyền và nhân dân Miến Điện với thế giới bên ngoài. Cơ quan Liên hiệp quốc cũng có sự hiện diện quan trọng tại Rangoon, và ít nhất là trong một khoảng thời gian nhất định vào thập niên 1990, các công ty nước ngoài đầu tư vào Miến Điện, với hy vọng được chia phần nguồn tài nguyên dầu khí quan trọng ngoài biển khơi. Đất nước này thậm chí còn thu hút được một lượng khách du lịch vừa phải. Quyền lực của junta nằm trong tay ba lãnh đạo hàng đầu: Than Shwe, Maung Aye, và Khin Nyunt.

Tuy nhiên cách đây năm năm, cán cân đã thay đổi. Than Shwe, được dân Miến Điện lưu vong mô tả là kẻ hoang tưởng muốn kiểm soát mọi thứ, đã củng cố quyền lực quanh mình. Than Shwe đã giam giữ tại gia Khin Nyunt, người đại diện của chế độ với bên ngoài, và bỏ tù nhiều người khác ủng hộ Khin Nyunt. (Than Shwe được xem là cũng có quan hệ căng thẳng với Maung Aye.) Than Shwe bắt đầu chi phối truyền hình nhà nước để biến hình ảnh của mình như một vị thánh sống được tôn sùng trong chùa. Ông ta cũng gia tăng hỗ trợ cho Hiệp hội Đoàn kết Thống nhất và Phát triển (USDA) - một tổ chức thanh niên, được nhà nước bảo trợ, học theo phong trào thanh niên phát xít Mussolini.

Theo nhà phân tích người Miến Điện Aung Zaw, “Người trong cuộc nói rằng Than Shwe muốn được nhớ đến như một vị vua nhân từ.” Ông lưu ý rằng Than Shwe đang tranh đua với những quốc vương chuyên chế thời xưa, những người đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối, xây dựng miếu đài để thể hiện quyền lực của mình, và ra quyết định dựa vào những lời của các nhà chiêm tinh. Thực vậy, hai năm trước, có tin là do lời khuyên của nhà chiêm tinh của mình, Than Shwe đã dời bộ máy chính phủ từ Rangoon đến một thành phố xa xôi ở miến Trung Miến Điện, nơi chính thể này cho xây dựng một loạt những tòa cao ốc nguy nga. Thành phố mới có tên Naypyidaw, nghĩa là “thành phố của những vị vua”.

Chính quyền junta đã giới hạn thông tin liên lạc bên trong Miến Điện và sự tiếp xúc với công nghệ bên ngoài. Điện thoại di động bị hạn chế bằng cách nâng mức giá cao khủng khiếp so với mức sống trung bình của người dân, và thiết lập kiểm duyệt Internet toàn diện, mặc dù nhiều nhà hoạt động vẫn đưa lén được một số hình ảnh của những cuộc biểu tình vừa qua ra bên ngoài.

Than Shwe cũng thiết đặt những giới hạn khắt khe với các tổ chức nước ngoài ở Miến Điện, khiến họ không thể làm việc được. Vào tháng sáu, Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế, do không thể đến thăm các tù nhân chính trị ở Miến Điện, đã đưa ra một nghị quyết chỉ trích hiếm thấy đối với chính quyền Miến Điện. Hai năm trước đó, Quỹ Quốc tế về Phòng chống bệnh AIDS, Lao và Sốt rét đã rời Miến Điện, nói rằng ở đó quá khó khăn để làm việc vì chính phủ ngày càng hạn chế việc đi lại của những nhân viên viện trợ.

Trên khắp đất nước, USDA ngày càng gia tăng sự giám sát và can thiệp vào đời sống người dân, gây nhũng nhiễu cho những người [dám] đặt vấn đề về chính quyền, thậm chí ngay cả khi họ làm việc đó ở chốn riêng tư.

Kết quả là chính thể hoang tưởng này ngày càng biệt lập với thế giới bên ngoài, thậm chí còn biệt lập với cả người dân Miến Điện, phần nhiều vẫn sống ở Rangoon, thành phố lớn nhất nước. Thiếu tin tưởng vào ý kiến của một vài technocrat (chuyên gia khoa học – ND) còn lại, chế độ này đang làm mục ruỗng nền kinh tế: Rangoon thường xuyên bị mất điện, và có những nơi đến 60% dân số lâm vào cảnh nghèo đói.

Bên ngoài Miến Điện, một mạng lưới tinh vi những nhà hoạt động trên toàn cầu đang lớn mạnh nhằm thúc đẩy cho nền dân chủ ở đất nước này. Tuy nhiên cho đến nay, những nhà cầm quyền láng giềng dân chủ hơn của Miến Ðiện không đủ gây sức ép cho Than Shwe. Trong thập niên 1990, Ấn Độ từng hỗ trợ cho phong trào dân chủ ở Miến Điện; nhưng hiện nay, do sự thâm hụt dầu mỏ và lo lắng là tình trạng không ổn định ở Miến Điện có thể lây lan qua biên giới, Ấn Độ giữ thái độ im lặng. Cả Thái Lan cũng vậy.

Trong khi đó, Trung Quốc lại thực sự trợ giúp chính phủ Miến Điện, cung cấp viện trợ cho chế độ này bất chấp sự cấm vận của phương Tây, đồng thời chặn đứng nghị quyết của Liên hiệp quốc được đưa ra nhằm gia tăng áp lực lên junta, đều đặn vận chuyển vũ khí bằng đường biển cho quân đội tàn bạo Miến Điện. Hiện nay, Trung Quốc trở thành đồng minh nước ngoài quan trọng nhất của Miến Điện.

Có thể là sự cô lập của chính quyền Miến Điện sẽ làm yếu đi khả năng cầm quyền. Trong quá khứ, một vài sự mở cửa hẳn có thể đã cho phép chế độ lường trước và ngăn chặn được những cuộc biểu tình. Còn hiện nay, tách biệt tại thủ đô mới giữa rừng, chính phủ có thể không tiên liệu được ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu đối với người dân. Những tướng lĩnh Miến Ðiện cũng có thể không hiểu nổi rằng việc sự gia tăng bảo trợ của quân đội cho giới Tăng ni, bằng việc xây dựng chùa chiền và hỗ trợ các tu viện, đã khiến các vị sư nổi giận như thế nào.

Trước đây các tướng lĩnh cũng từng mắc sai lầm như vậy. Năm 1987 và 1988, khi quân đội được lãnh đạo bởi Ne Win, một nhà độc tài không thể lường trước, và cũng thiên về hướng cai trị kiểu sùng bái cá nhân, chế độ này đột nhiên tuyên bố tiền giấy lúc bấy giờ không còn giá trị nữa. (Ne Win cũng được cho là xem chiêm tinh trước khi ban bố những chính sách lớn). Sự kiện bất thường đó đã dấy lên biến cố 1988 thu hút hàng triệu người dân Miến Điện, rồi cuối cùng bị đàn áp đẫm máu bởi chính quyền.

Tuy nhiên sự kiện đó diễn ra trong chiến tranh lạnh, trước khi có sự xuất hiện của Internet và sự gia tăng các tổ chức phi chính phủ toàn cầu. Vào năm 1988, những câu chuyện và bức ảnh từ cuộc nổi dậy ở Miến Điện phải mất một thời gian mới đến được các hãng thông tấn nước ngoài, nhưng ngày nay, hình ảnh của những cuộc biểu tình xuất hiện trên các trang web nước ngoài về Miến Điện vào cùng ngày xảy ra sự kiện. Năm 1988, nhiều chính quyền hà khắc vẫn đang nắm quyền ở châu Á, nên không có gì lạ khi chỉ có vài nhà lãnh đạo trong vùng lên tiếng cho người dân Miến Điện bị đàn áp. Vào năm 1988, Mỹ vẫn bị kẹt trong cuộc chiến với nhà nước toàn trị Xô-viết, nên tất cả những cuộc xung đột khác không gây lưu tâm lớn.

Ngày nay, tình thế đã thay đổi rất nhiều. Chế độ dân chủ đã bén rễ ở châu Á, chiến tranh lạnh chỉ còn là kí ức, và nước Mỹ cam kết [ủng hộ] chế độ dân chủ toàn cầu. Còn bên trong Miến Điện, Than Shwe lại đang tìm cách quay ngược kim đồng hồ. Điều đó dường như là không thể.

Nhưng nếu Than Shwe vẫn nắm giữ quyền lực, không bị phản ứng bởi nước những láng giềng đang thèm muốn nguồn tài nguyên của Miến Điện, cũng như không sợ Liên hiệp quốc tẩy chay mình, ông ta có thể mở tầm kiểm soát lên cả xã hội. Nếu điều đó xảy ra, ông ta sẽ chứng tỏ mình không phải kẻ lỗi thời, mà là một tấm gương cho những kẻ bạo chúa khác đang nắm quyền.

Joshua Kurlantzick

Bản tiếng Việt © 2007 talawas

[1] Nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện

[2] Bà là con gái của cố lãnh tụ Aung Sang, và là nhà hoạt động vì dân chủ cho Miến Điện. Hiện nay, bà bị chính quyền quân phiệt bắt giam tại gia.


  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Kierkergaard

By Gia Vũ, June 7, 2006 1:44 PM

Như đã trình bày, triết học Hiện Sinh có hai gốc đối lập nhau:

- Gốc Kierkergaard -bắt nguồn từ những truyền thống Hy Lạp (Socrate) và Thiên Chúa Giáo- hướng về Thượng Đế.

- Gốc Nietzsche -bắt nguồn từ những tư tưởng ngược chiều với truyền thống Hy Lạp- Nietzsche chủ trương tử bỏ Thượng Đế để tiến tới con người, con người “siêu nhân”.

Ông tổ của Hiện sinh đích thực - Kierkergaard (1)

Kierkergaard (5-5-1813, Copenhague, Đan Mạch) là triết gia đầu tiên đã đem đời mình, đời cha mình ra để suy nghiệm về nỗi thống khổ của con người. Con người mà ông khảo sát ở đây là chính bản thân ông, với những giai đoạn trong đường đời. Đó là lý do khiến ông trở thành ông tổ đích thực của triết học Hiện Sinh. Sau này, Sartre, Camus, Simone de Beauvoir và những tác giả có khuynh hướng hiện sinh khác, như các nhà văn trong phong trào tiểu thuyết mới v.v… hầu như tất cả đều viết về mình, đều tra khảo chính mình để tìm hiểu sự thật dưới các dạng thức khác nhau. Triết học của Kierkergaard là triết học nghiệm sinh trên cá nhân tác giả.

Kierkergaard nhìn thấy trong kinh nghiệm sống của mình, ba giai đoạn hiện sinh:

Giai đoạn đầu là giai đoạn hiếu mỹ:
Thời còn sinh viên, chìm đắm trong sắc dục, bị cám dỗ. Kierkergaard bắt đầu suy nghĩ về tội lỗi, về buồn chán, về khổ đau. Những tội lỗi mà Kierkergaard luôn luôn nhắc đến, có thể chỉ là trụy lạc trong trí tưởng tượng, trụy lạc của cảm giác thẩm mỹ.

Giai đoạn thứ nhì là giai đoạn đạo hạnh:
Kierkergaard yêu người con gái tên Régine Olsen, ông chấm dứt thời kỳ phiêu đãng, ăn chơi. Ông muốn người yêu cùng với mình vươn lên tới giai đoạn thứ ba: giai đoạn tôn giáo. Nhưng không lâu sau khi cưới, vì không đưa nàng lên mức sống tôn giáo sâu xa như mình được, ông đã đẩy nàng tới chỗ hai bên phải đoạn tuyệt trong thương nhớ. Tất cả đều do tâm hồn quá phức tạp của ông.

Giai đoạn thứ ba: giai đoạn tôn giáo.
Đặc tính của đời sống tôn giáo gồm hai chữ độc đáo và tin yêu. Theo Kierkergaard, con người tôn giáo là con người đã tìm được chính mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ thông thường của luân lý nữa. Sứ mệnh của ông là mang tôn giáo lại với triết học, và đem con người trở về với Thiên chúa. Nếu hỏi: Tại đâu con người có thể biết mình là một nhân vị (con người) độc đáo? Kierkergaard trả lời: Tự ý thức về tội lỗi. Chính tội lỗi là cái làm cho con người tự cảm thấy đơn độc. Tội lỗi làm cho con người có tương quan với tuyệt đối, dám tiếp xúc với thực tại cao cả nhất là Thượng Đế.

Kierkergaard cho rằng những người như Hegel chỉ lấy lý luận để mong giải nghĩa tất cả. Ông đã trình bày một tâm hồn hiện sinh luôn luôn bị dằn vặt, vật lộn với chính mình để vượt qua những chặng đường đời. Triết của Kierkergaard là triết về đời sống, là triết để mà sống cho ra người. Không bàn luận về những vấn đề trừu tượng xa xôi, triết Kierkegaard đã đem con người về với cuộc đới và với bản thân mình. Tư tưởng của ông là một nền triết học thực thụ vì đó là những suy tưởng sâu xa về cuộc đời. Vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh. Triết Kierkegaard cũng chấm dứt thời kì hưng thịnh của triết duy niệm Hegel.

  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Triết Học Hiện Sinh

By Gia Vũ, June 6, 2006 1:37 PM

Như nhiều người đã biết, vào những năm 60-70 ở miền Nam xuất hiện phong trào chạy theo “hiện sinh”. Trước đó khoảng mươi năm, phương Tây cũng rộ lên phong trào hiện sinh, khi mà tầng lớp thanh niên muốn tìm đến một lối sống tự do, phóng thoáng hơn. Đó là lúc các tác phẩm của Sartre được NXB Khai Trí dịch và in lần đầu năm 1970 . Sau giải phóng, những năm 80-90, trào lưu hiện sinh cũng lan rộng. Thời đó, một người được gọi là trí thức phải có một bản dịch cuốn “Buồn nôn” của Sartre (2) gối đầu giường, và phải là bản photo từ cuốn của Thư viện quốc gia. Đấy là tớ nghe kể, chứ nếu quả thực như vậy, thì trí thức Việt Nam rất đáng khâm phục, vì cuốn “Buồn nôn” quả thật rất khó đọc, và cũng rất chán, vì nó không có cốt truyện.

Nhiều người cứ nhắc đến Hiện sinh là nghĩ tới Sartre, và chỉ có Sartre. Thực ra không phải như vậy, bởi vì chỉ có Sartre tự nhận mình là nhà hiện sinh và ông cũng để lại nhiều tác phẩm. Phần lớn các học giả đều cho rằng, thuyết này có từ trước từ thế kỷ XVII với Pascal Blaise, qua Kiergaard (3) rồi Nietzsche (4) … Vì hầu hết các tư tưởng triết học của Tây Âu chịu ảnh hưởng của đạo Thiên chúa, chính vì thế chủ nghĩa hiện sinh cũng chia làm hai trường phái: hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần.

Con đường của hiện sinh:

Khởi điểm của triết học phương Tây là triết học Hi lạp. Đó là những nhận thức chung của người Hi lạp với thế giới, bao gồm cả tự nhiên và xã hội. Các triết gia thời này còn là các nhà toán học, vật lý nữa, như Pithagore chẳng hạn. Triết học thời đó nghiên cứu về bản chất và sự vận động của vũ trụ và vạn vật. Như thế, con người không có chỗ đứng riêng, con người cũng bị coi là trong hàng vạn vật. Vũ trụ quan của Aristote cho ta thấy một con người bị chìm trong vũ trụ.

Descartes với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Đối với Descartes, không thể có triết học về vũ trụ mà chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần. Đáng tiếc là Descartes đã chỉ dừng lại ở tinh thần con người mà không tìm hiểu con người như một thực thể sinh tồn, có thần, có xác.

Kant và Hegel còn đẩy xa tinh thần hơn nữa thành thử triết học vẫn luẩn quẩn trong thái độ ý niệm, coi con người là một vật thể, cho con người là thế này, thế kia, miễn là được sống tự do.

Trong cuốn Triết học hiện sinh, Trần Thái Đỉnh đưa ra định nghĩa về triết học Hiện sinh như sau:

*****

Nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của Aristote, mà là con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.

Triết học Hiện Sinh xây dựng trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người.

Con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình.

Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự do ở đây là dám là mình. Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh vật, chưa sống cái kiếp người của tôi. Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn, sống như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thường. Và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường đó thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc đáo là tự xác định nhân vị của mình.

*****

Hai trường phái của triết học hiện sinh:

Triết học Hiện Sinh có hai gốc đối lập nhau:
- Gốc Kierkergaard -bắt nguồn từ những truyền thống Hy Lạp (Socrate) và Thiên Chúa Giáo- hướng về Thượng Đế.

- Gốc Nietzsche -bắt nguồn từ những tư tưởng ngược chiều với truyền thống Hy Lạp- Nietzsche chủ trương tiêu diệt Thượng Đế để tiến tới con người, con người siêu nhân (surhomme).

Cũng có thể coi họ là ông tổ hai trường phái hiện sinh hữu thần (Kierkergaard) và hiện sinh vô thần (Nietzsche). Phái hữu thần có Jaspers (5) và Marcel (6), còn phái vô thần có Sartre và Heidegger (7). Ngoài ra còn có nhiều nhà hiện sinh khác, nhưng chúng ta chỉ tìm hiểu sâu về những người nổi bật nhất, có ảnh hưởng nhất.

Tuy cùng là hiện sinh, nhưng hai phái này rất khác nhau, nhiều điểm còn trái ngược nhau.

Trước hết là Kierkergaard, ông tổ Hiện Sinh đích thực. Kierkergaard sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1813 tại Copenhague, Đan Mạch. Ông chịu ảnh hưởng của Socrate rất nhiều. Phái hữu thần (phái hữu) của Kierkergaard mang tính xây dựng, và giữ vững niềm tin nơi Thiên chú (Thượng đế).
Trái lại, Nietzsche cũng đề cao văn minh Hy Lạp, nhưng là văn minh trước Socrate. Hai kẻ thù bị Nietzsche luôn nguyền rủa là Ki-tô giáo (Christianism) và tư tưởng duy thức của Socrate và Plato. Phái tả (vô thần) của Nietzsche luôn đả phá những truyền thống về tôn giáo và tư tưởng. Họ cho rằng, hễ còn tin vào thượng đế, con người chưa hoàn toàn tự do.

So sánh hai ông với nhau, Nietzsche có ảnh hưởng nhiều hơn. Ông là hiện sinh của tinh thần chống đối. Nhưng chính Kierkergaard đem lại cho hiện sinh những bổ túc cần thiết. Ông giúp ta tìm tới “siêu việt” và khám phá được tha nhân (con người) bằng niềm cảm thông đích thực.
Hai ngành này tuy đối lập nhau, nhưng không khác nhau. Có một chủ trương chung: Lấy triết học con người để chống lại sự quá trớn của của hai nền triết học cổ điển là triết học quan niệm và triết học vũ trụ.

Những nhà đại diện của hai trường phái:

Trong số những nhà hiện sinh sau này, Sartre là người để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị. Tuy nhiên, người ta đánh giá thuyết của ông chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của sinh hoạt xã hội, nói cách khác, xa xã hội loài người. Ngông cuồng vì chủ trương không có Thượng đế, ông cho mình có tự do tuyệt đối để muốn nghĩ gì thì nghĩ, muốn làm gì thì làm. Đó Những nhà hiện sinh khác, như Jaspers và Marcel đi sát thực tế hơn và nhận ra giá trị đích thực của vạn vật và xã hội con người. Marcel đề cao nhân vị và tương chủ tính (đây là từ dịch, mình cũng chưa hiểu hết ý nghĩa). Trong hướng này, ông được xem là ông nội của thuyết nhân vị. Còn Jaspers được xem như kết tinh của Kierkergaard và Nietzsche. Trong triết lý của ông, truyền thống gắn liền với canh tân, con người kết liên với Thượng đế, và tự do không mâu thuẫn với cảm thông. Còn Heidegger được xem như triết gia nghiên cứu về hiện hữu.

Đó là những nét khái quát của bốn nhà hiện sinh sau này.

Một số trang tham khảo thêm:

http://www.friesian.com/existent.htm
http://plato.stanford.edu/entries/existentialism/
http://www.sartre.org/
Sartre and Vietnam
http://www.marxists.org/reference/archive/sartre/works/exist/sartre.htm

Chú thích:

(2) Jean-Paul Sartre:

Sartre trở nên nổi tiếng với công chúng hơn, nhất là công chúng ngoài châu Âu như Việt Nam từ sau vụ ông từ chối nhận giải Nobel văn chương năm 1968 và đứng về cánh tả trong cuộc nổi dậy của sinh viên Pháp mùa hè 1968, dẫn đến sự từ chức của De Gaulle. Điều thú vị nữa là ông này rất chuộng chủ nghĩa Marx.

Lão này để lại khá nhiều tác phẩm văn học, và nhiều cuốn đã được dịch sang tiếng Việt. Ngoài cuốn “Buồn nôn”, một cuốn nữa mình biết là The Wall. Nói chung, đọc Sartre rất khó, vì văn theo kiểu triết mà.

Một điều ít ai được biết là có một triết gia Việt Nam từng được sánh ngang với Sartre, triết gia hàng đầu châu Âu thời bấy giờ. Đó là Trần Đức Thảo, ông này học ở Paris, sau đó tham gia Việt Minh, nhưng dính dáng trong vụ “Nhân văn giải phẩm”, nên sang Pháp sống. Những năm 50, tại Pháp, ông từng có những cuộc “bút chiến” với Sartre trên báo.


  • Blogger Post
  • Facebook
  • Delicious
  • Google Bookmarks
  • Yahoo Messenger
  • WordPress
  • Twitter
  • Share/Bookmark

Panorama theme by Themocracy