Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy

Về Iliad của Homer và Ransom của David Malouf

Định đề ở đây cũng đơn giản như trong câu đầu tiên chương Genesis của Kinh thánh [First God made heaven and earth], và còn khả tin hơn: từ thuở sơ khai, Homer đã sáng tạo ra văn chương. Ông đã làm việc đó, tức là nếu chỉ có một mình, với hai chiều phóng chiếu, hai thi phẩm nhìn về những tương lai văn chương khác nhau. The Iliad là bản anh hùng ca ban sơ của nhân loại, ngợi ca sự chiến đấu anh dũng và sự vẻ vang của trận đánh. The Odyssey bắt đầu khi trận chiến thành Troy đã kết thúc và kể về những hiểm nguy sau đó, đồng hành với nhân vật chính trong cuộc hành trình về quê hương, gợi ra một lựa chọn khác cho thể loại lãng mạn, kiểu không cần phải ngưng truyện khi nhân vật chết như hay thấy trong anh hùng ca mà mở ra trước biến cố và việc du hành, cho phép sự thám hiểm không giới hạn. Bởi vậy, những người viết sau này đã dành những dòng footnote về Homer, dù là tóm lược đầy ngờ vực cuộc chiến thành Troy như một vở kịch phóng đãng, như Shakespeare trong Troilus and Cressida, hay ngốn cả chuyến đi khắp Địa Trung Hải dài hàng mười năm của Odysseus vào chỉ một ngày ở Dublin, như Joyce đã làm với Ulysses. Continue reading

The 10 Best Books of 2008 (NYTimes)

The 10 Best Books of 2008

The 10 Best Books of 2008

Tháng 12 năm ngoái, ban biên tập mục điểm sách của tờ New York Times đã chọn ra 10 cuốn sách hay nhất năm 2008 từ danh sách 100 cuốn đáng đọc nhất trong năm cũng do tờ báo này bình chọn một tuần trước đó. Continue reading

JG Ballard, Tác Giả Của Crash, Qua Đời Ở Tuổi 78

Tiểu thuyết gia JG Ballard, người khơi gợi một cái nhìn ảm đạm về đời sống hiện đại với một chuỗi tiểu thuyết và truyện ngắn đầy uy lực hơn 50 năm về trước, đã qua đời sau thời gian dài vật lộn với bệnh ung thư.

Đại diện của nhà văn, Margaret Hanbury, vào tối ngày 20/4 đã báo “với lòng đau buồn sâu sắc” rằng tác giả 78 tuổi này đã ra đi sáng ngày 19/4 sau nhiều năm lâm trọng bệnh.

Hanbury, người làm việc với Ballard hơn 25 năm, nói rằng ông là một tiểu thuyết gia “thông thái, dồi dào bút lực”. “JG Ballard đã trở thành cây đại thụ của văn chương thế giới trong hơn 50 năm. Tiếp theo những cuốn tiểu thuyết đầu tay của những năm 60, 70, tác phẩm của ông đã nhận được lượng độc giả đông đảo hơn với việc xuất bản Empire of the Sun năm 1984, cuốn sách nhận được một số giải thưởng và được đại diễn Steven Spielberg chuyển thể thành phim.”

“Sự quan sát sắc bén và sâu rộng của ông về cuộc sống đương đại được chắt lọc trong những cuốn tiểu thuyết thông thái, đầy uy lực, những cuốn sách đã được xuất bản khắp thế giới và đánh dấu vị trí tôn kính mà Ballard đạt được.”

Cảm hứng từ những tạp chí science fiction quen thuộc mà ông bắt gặp khi ở Canada trong thời gian phục vụ cho RAF (Không quân hoàng gia Anh – ND), Ballard bắt đầu xuất bản những truyện ngắn gợi lên những khung cảnh đổ nát tràn ngập những máy móc hư hỏng, những bãi biển hoang vắng và tòa nhà bỏ hoang.

Những cuốn tiểu thuyết về thảm họa và sự thử nghiệm, gồm The Drowned World (1962) và Crash (1973), sau đó được chuyển thể thành phim bởi David Cronenberg, mang lại cho ông tiếng tăm đang vang lên của một ngòi bút tiên phong mang tư tưởng chống-thiết lập. Crash, ở đó một cặp đôi nam nữ bị kích dục qua [việc tham gia - ND] những vụ đụng xe hơi, được viết khi người ta xây dựng nới rộng một xa lộ băng qua cuối con đường nhà ông ở Shepperton, phía Tây London.

Năm 1984, Ballard được công chúng thừa nhận ở một vị thế mới với Empire of the Sun, một cách tiểu thuyết hóa hiện thực không e dè về khoảng thời gian bị giam giữ khi còn là thiếu niên trong một trại của lính Nhật dành cho dân thường ở Thượng Hải.

Ông mất 40 năm tự mình chuẩn bị đế có thể viết về khoảng thời gian trưởng thành của đời mình – “20 năm để quên, và 20 năm nữa để nhớ,” như ông miêu tả sau này. Cuốn tiểu thuyết viết về một chàng trai trẻ người Anh, cũng như nhiều nhân vật dẫn chuyện khác của Ballard, mang tên giống ông (Jim là tên thân mật của James – ND), trải qua cuộc chiếm đóng của quân Nhật ở Thượng Hải. Sống tách rời với cha mẹ, ban đầu Jim sống sót bằng những bịch thứ ăn bỏ đi trong ngôi biệt thự để trống của cơ quan tái thiết quốc tế, trước khi bị tóm bởi một lính Nhật và bị giam trong Trung tâm tập hợp thường dân Long Hoa, nơi nó tận hưởng cái tự do quái đản giữa cái đói, bệnh tật và cái chết.

Ballard nói về tuổi thơ của ông: “Tôi có những kí ức – Tôi không nói là hạnh phúc – không cay đắng về thời gian ở trại. Tôi nhớ nhiều cảnh hung bạo và trừng phạt thỉnh thoảng vẫn xảy ra, trong lúc mà bọn trẻ chúng tôi đang vui đùa với hàng tá trò chơi, bất kể lúc nào!”

Sinh năm 1930 tại Thượng Hải, Ballard đến Anh với ba mẹ sau chiến tranh, nơi ông học nội trú tại trường Leys ở Cambridge; bước chân, như ông miêu tả, “ra khỏi một ngôi trường, để vào một trường khác.” Sau khi học y khoa tại Cambridge, nơi ông dè bỉu là một “công viên mang dáng dấp học thuật”, ông học Ngữ văn Anh tại University of London, trước khi bước vào chuỗi công việc và viết truyện ngắn vào thời gian rảnh rỗi.

Truyện được xuất bản đầu tiên của ông, một ngụ ngôn về loài cây biết hát tên là Prima Belladonna, xuất hiện trên tạp chí Science Fantasy năm 1954. Cũng trong năm đó cuộc triển lãm ở phòng trưng bày Whitechapel đánh dấu sự ra đời của pop art. Từ cuộc triển lãm này và những tác phẩm của những nhà siêu thực như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali và Paul Delvaux ông tìm được cảm hứng cho cái sau này ông gọi là “hư cấu của ngày hôm nay”.

Cây bút science fiction (tức Ballard – ND) trẻ tuổi “không mấy hứng thú với đề tài về tương lai xa xôi, phi thuyền và những thứ đại loại thế”, ông giải thích, mà hứng thú với “một thế giới đang tiến hóa, thế giới của những điều đáng tin nhưng ta không cảm nhận được, của sự phát triển quan cảnh truyền thông, của du lịch đại chúng, của những ngoại ô chuẩn tắc rộng lớn bị thống trị bởi truyền hình – đó là một dạng của science fiction, và giờ đây nó vốn đã như vậy”.

Sự qua đời đột ngột của vợ ông, Mary, trong kì nghỉ năm 1964 để mình ông gà trống nuôi con với ba đứa trẻ, nhưng cuộc sống bên gia đình ở Shepperton khiến trí tưởng tượng của Ballard mặc sức nảy nở, khi tác phẩm của ông chuyển sang thứ chủ nghĩa hiện thực chiêm nghiệm vô định được ra đời vào những năm 1960 ở Anh quốc.

Những tác phẩm sau này của ông tiếp tục hướng cuộc sống hiện đại đến những thái cực của riêng nó, với một xã hội dystopia hung hãn trong Supper Cannes (2000), cuộc cách mạng của tầng lớp trung lưu trong Millennium People (2003), và sự chuyển hướng xuống chủ nghĩa phát xít vị lợi tiêu dùng (consumerist facism) trong Kindom Come (2006). Nhưng cái mác nhà văn science fiction vẫn còn đó, khiến Ballard rất khó chịu, một phần như là cách để “xoa dịu đi hiểm họa” (mà tác phẩm của Ballard nói đến – ND). “Bằng cách gọi tiểu thuyết như Crash là science fiction, bạn đã cách ly cuốn sách và bạn không cần biết nó viết gì”, ông giải thích.

Ông tự cô lập mình với giới văn chương thế giới, và từ chối nhận tước hiệu CBE (Commander of the British Empire, sĩ quan đế chế Anh – ND) năm 2003, bảy tỏ sự khinh miệt với hệ thống phẩm tước, coi nó như một “Kiểu thậm xưng đầy chất ruritanian (một quốc gia hư cấu trong tiểu thuyết của Anthony Hope – ND) nhằm bợ đỡ nền quân chủ cồng kềnh của chúng ta”.

Ông sống sót trong bạo bệnh là nhờ người bạn đời Claire Walsh và ba người con James, Fay và Beatrice.

Dịch từ The Guardian

Nam Lê – “Nhân vật tôi là nhân vật khó viết nhất”

Nam Lê sinh ra ở Việt Nam và lớn lên ở Úc. Anh làm luật gia trước khi đoạt giải thưởng Hội Truman Capote dành cho Lớp viết văn của đại học Iowa, nơi anh viết tác phẩm The boat (Con thuyền), tuyển tập truyện ngắn đoạt giải mang tính khám phá đẹp đẽ. Cuộc trò chuyện của Megan Walsh với nhà văn trẻ mới nổi trên văn đàn.

Anh vừa đoạt giải thưởng Dylan Thomas dành cho những cây bút có khiếu sáng tạo dưới 30 tuổi, và được đề cử cho 5 nhà văn xuất sắc dưới 35 tuổi của Quỹ National Book. Anh cảm nhận thế nào khi đã giành được những giải thưởng văn học?

Điều đó khiến tôi khá bất ngờ, hãnh diện và không ngạo mạn. Và một chút khó hiểu nữa. Không thể trông đợi nhiều vào những tuyển tập truyện ngắn khi mà mọi đánh giá đều có một cái gì đấy kích động. Do vậy, tôi đã rất phấn chấn khi được lọt vào vòng chung khảo của những giải thưởng danh giá ấy. Hẳn nhiên, sự non nớt là con dao hai lưỡi; tôi sẽ nói với hầu hết cây bút “trẻ” rằng chúng ta muốn tác phẩm của mình được đánh giá không phải trong nhất thời hay vì có triển vọng, mà đơn giản vì nó đáng được như thế. Đôi lúc có một thứ còn tồi tệ hơn việc được tung hô thành quả bởi vì anh còn trẻ, đó là việc được quyền sai sót, bởi vì anh còn trẻ.

Anh học về luật trước khi chuyển sang viết văn. Khi nào anh nhận ra mình muốn được viết?

Tôi luôn là một người ham đọc, và vai trò đó có ảnh hưởng đến việc viết văn. Ở trường tiểu học, tôi đọc mọi thứ có trong tay: văn học thiếu nhi, tiểu thuyết, truyện tranh, cổ tích… Lên trung học tôi bắt đầu tập trung vào đọc và viết thơ. Đến đại học tôi nảy hứng học làm báo, và sau khi tốt nghiệp, trong suốt một năm tự do, tôi bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi hoàn thành nó trong khi làm việc cho một công ty luật sau đó khoảng một năm. Mặc dù sau đó tôi đã xếp xó cuốn tiểu thuyết đó, nó cũng giúp tôi được nhận vào vào học chương trình thạc sĩ tại đại học Iowa, nơi tôi tìm thấy thời gian và động lực để viết những truyện ngắn trong The Boat.

Truyện ngắn có điều gì cuốn hút anh so với thơ và tiểu thuyết?

Dĩ nhiên thơ có thể viết theo lối tự sự, và theo lối tiểu thuyết nhưng nhìn chung hai thể loại này đặt ngôn ngữ vào những yếu tố khác nhau. Truyện ngắn, theo tôi, phù hợp với việc chuyển đổi giữa những yếu tố đó. Những gì tiểu thuyết làm được thì truyện ngắn cũng làm được, ngoại trừ việc viết dài. Ngược lại, người ta cho rằng so với tiểu thuyết, truyện ngắn sẽ kết hợp tốt hơn với những phép logic thơ như thu gọn, tỉnh lược, liên kết, khả năng tu từ… Khi đó, mặc dù truyện ngắn ngắn hơn tiểu thuyết, tôi vẫn thích khả năng cô đọng của chúng. Chúng có thể kể một câu chuyện đồng thời vẫn mang đặc điểm riêng của thơ ca là ý tại ngôn ngoại. Tôi thích mọi thứ, kể cả những sai sót, phải được nêu bật trong truyện ngắn. Tôi muốn độc giả phải được thuyết phục để chìm đắm sâu hơn vào tác phẩm, mặc dù họ biết là sắp kết thúc đấy. Tất cả điều đó khiến truyện ngắn mang tầm vóc cao hơn.

Truyện đầu tiên trong tuyển tập của anh được cố ý viết theo lối bán tự truyện và những truyện còn lại kể về những nơi chốn và nhân vật ít tương đồng với anh hoặc phông văn hoá của anh. Anh có nghĩ việc ẩn danh là quan trọng với người viết?

Tôi đã nghe David Simon, tác giả của show truyền hình nổi tiếng The Wire, nói về điều đó. Anh ấy nói về ý tưởng của mình là lấy những tay nghiện ngoài đời làm “hiện thực” cho tay nghiện trên màn ảnh, những tay cớm ngoài đời cho tay cớm trong hư cấu. Tôi đã nghĩ rằng đó là một sự trung thành vô đối cho những gì anh ấy đã sáng tạo, nhưng điều đó (một cách chừng mực) đã làm thiếu đi độ phức tạp của sự giống thật, của kĩ xảo và tính xác thực. Hơn nữa, như thế chưa đủ. Anh không muốn chỉ những tay nghiện mới nhận ra mình trong chân dung của một tay nghiện hư cấu, mà anh muốn mọi người đều nhận ra bản thân họ. Anh cần phải giữ khoảng cách giữa nhận dạng tuyệt đối và sự thấu cảm bởi đó là mục đích đạo đức của việc hư cấu. David Simon hiểu như vậy, và đó là lý do tại sao chương trình của anh ta quá xuất sắc.

Về mặt lý thuyết, tôi thật sự tin vào lời khuyên mẫu mực của T.S. Eliot về việc đoạn tuyệt tính cách của chính tác giả cũng như câu nói lịch thiệp của Flaubert “Bà Bovary? Đó là tôi!” Tôi không chắc cách nghĩ đó ảnh hưởng thế nào đến tôi, với câu hỏi này.

Nhân vật nào trong The Boat khiến anh khó viết nhất và tại sao?

Tôi nghĩ, một cách đủ tỉnh táo, rằng “Nam” trong truyện đầu tiên chính là nhân vật khó viết nhất. Như những ai đã đọc cuốn sách có thể nhận thấy, tôi thật sự rất khó thoát khỏi sự tự ý thức trong khi viết, do đó rất khó để đặt một nhân vật với tên và hoàn cảnh của tôi vào trước và trung tâm câu truyện.

Điều khiến tôi nhọc công hơn nữa là cái bản thân tôi, tức là, cái tôi được bổ trợ hoàn toàn bởi tính cách chủ quan của tôi, do luôn phải tìm lời giải thích cho trải nghiệm của bản thân có sức thuyết phục hơn, âm vang hơn so với những độc giả chỉ có thể đọc câu chữ của tôi trên trang giấy. Theo lối đó, việc viết từ tự truyện có thể trở thành một sự đương đầu ích kỉ. Và là một nhà văn, thật không dễ để biến câu chữ trên trang giấy trở nên thuyết phục và gợi mở với độc giả, vốn là số đông chứ không chỉ riêng người viết.

Điều gì khiến anh viết nên truyện Cartagena?

Sáu năm trước tôi đến Colombia (mặc dù không phải đến Medellin, nơi câu truyện xảy ra). Tôi đặt chân đến Cartagena, nơi một trong những thứ tôi chứng kiến đã trở thành hình ảnh kết truyện. Ba năm sau (và sau hàng loạt biến cố khác), tôi quyết định viết câu chuyện về một tên sát nhân thiếu niên. Đó là một trong những điều thật khó tin. Nó làm cho bạn nhức nhối và ngày càng lượn lờ trong đầu bạn. Tôi đơn giản là đã bị cuốn vào nó. Về điểm này thì tôi không biết nhiều lắm, vì nó có thể xảy ra ngay cả ở Colombia chẳng hạn. Một phần diễn biến được xử lý bằng kĩ thuật: tôi chỉ viết “The Boat” (truyện cuối cùng trong sách) bằng một giọng văn chậm rãi, tự sự kéo dài theo lối viết cổ điển, đặt nhân vật nữ chính vào ngôi thứ ba. Sẽ là không tồi với một cây bút trẻ khi bắt đầu bằng một tác phẩm thuần khiết, nhuần nhị và phóng đãng.

Tôi đã từng nói ở đâu đó rằng truyện này bắt đầu bằng việc đi tìm một giọng văn. Tình thế rất rõ ràng: đó là một tên mười-bốn-tuổi chứ không phải đứa con nít. Nó xứng đáng nhận được hơn lòng thương hại, sự thu hút, hay phẫn nộ của người đọc, hơn cả sự miêu tả tường tận tình thế của nó. Thằng bé xứng đáng được lắng nghe. Những mẩu chuyện khác nhau cho chúng ta nhìn qua những lăng kính khác nhau: ở đây câu chuyện cần phải có, trước nhất và tiên quyết, một giọng văn cụ thể.

Vì thế tôi đi sâu vào nghiên cứu. Tôi đọc mọi thứ có thể có: sách, văn bản luật, luận văn nghiên cứu xã hội, tài liệu mua bán ma tuý và vũ khí, các blog du lịch, báo cáo về NGO. Tôi tìm tranh ảnh trong những cuốn sách, tạp chí, trên mạng. Tôi thử những bố cục khác nhau (một lần, câu chuyện thay đổi cách nhìn giữa Ron, Hernando và một gã Tây tình nguyện viên NGO). Tôi chọn được nhân vật chính, cách diễn đạt và giọng văn. Sau đó tôi xây dựng cốt truyện, rồi viết bản thảo. Đó là lúc phản hồi của người đọc rất cần thiết. Họ giúp tôi vạch ra những lỗ hổng trong cốt truyện. Đôi lúc việc dựng truyện giống như đi vào cái cụ thể: ai được biết những gì, vào lúc nào? Những ai có những động cơ nào, tại sao lại thế? Tôi nhận ra nhiều lỗ hổng. Sau đó tôi sửa lại một cách thật tốt có thể, rồi khoét thêm những lỗ hổng mới, và sửa một lần nữa. Truyện được đăng bởi một tạp chí, sau khi được hiệu đính chỉn chu, và rồi được một nhà xuất bản chấp nhận và họ biên tập lại một lần nữa. Và một số lần sau đó.

Anh có truyện ngắn nào yêu thích không?

Tôi không có. Nhưng gần đây tôi bị ấn tượng bởi những truyện của Charles D’ Ambrosio trong tuyển tập The Dead Fish Museum.

Dịch từ Times Online

Obama và sự cản đường trí thức

LND: Chủ nghĩa chống trí thức là quan niệm bài trí thức, nhất là của giới lãnh đạo, vì cho rằng trí thức đồng nghĩa với tinh thần phê phán, phản biện và do đó, không có tính thực dụng tức thời. Quan niệm này đã xuất hiện từ lâu trong hệ thống chính trị nước Mỹ. Năm 1963, Richard Hofstadter, đoạt giải Pulitzer cùng với tác phẩm “Chủ nghĩa chống trí thức trong xã hội Mỹ”, cho rằng vai trò của trí thức đã suy yếu và căn nguyên của vấn đề chính là nền giáo dục mang nặng tính dân chủ hóa. 45 năm sau với vị tổng thống da màu đầu tiên, thời cuộc nước Mỹ dường như đã thay đổi. Nicholas Kristof, cũng là một nhà báo đoạt giải Pulitzer, cho rằng việc Obama thắng cử sẽ đưa nước Mỹ rẽ sang một hướng khác, ngày càng tách xa khỏi thứ chủ nghĩa “phản-trí thức” đó.

Sự thắng cử của Obama là một dấu mốc lịch sử không chỉ vì màu da của ông. Điều đáng ghi nhận nữa về cuộc bầu cử này là cử tri Mỹ đã chọn được một vị tổng thống cởi mở, gần dân, và là một trí thức lão luyện.

Có thể, chỉ là phỏng đoán mà thôi, kết quả này sẽ là một bước đưa nước Mỹ thoát khỏi chủ nghĩa chống trí thức, vốn đã là tâm lý cố hữu trong xã hội Mỹ. Một nhà lãnh đạo thông minh và có học vấn không phải là thuốc trị bách bệnh, nhưng gần đây chúng ta cũng thấy rằng mặt khác, một Nhà trắng ghét bỏ giới hàn lâm và xem thường sự phản biện cũng không hẳn một phương thuốc hữu ích.

Chúng ta không thể giải quyết những khó khăn trong giáo dục khi mà theo kết quả thăm dò, hầu như người Mỹ tin vào đĩa bay cũng như cách họ tin vào sự tiến hóa, và một phần năm người Mỹ tin rằng Mặt trời quay quanh Trái đất.

Gần một nửa số thanh niên Mỹ trong một cuộc khảo sát năm 2006 cho rằng không nhất thiết phải biết một quốc gia nằm ở đâu khi nghe tin thời sự về quốc gia ấy. Điều đó cũng chữa cháy phần nào cho Sarah Palin khi bà, theo hãng tin Fox, không biết rằng châu Phi là một lục địa chứ không phải một quốc gia.

Có lẽ John Kennedy là vị tổng thống cuối cùng không cảm thấy đắn đo về vị trí trí thức của mình và về những học giả thông thái nhất đã được ông cất nhắc vào nội các. Gần đây hơn, chúng ta đã có những vị tổng thống thông minh và học vấn cao cố che đậy trí tuệ. Richard Nixon là một trí thức khắt khe với bản thân, còn Bill Clinton thì che giấu bộ óc thông thái ẩn sau chất giọng bình dân vùng Arkansas.

Còn với tổng thống Bush, ông đã đưa chủ nghĩa chống trí thức trở thành đường lối điều hành đất nước, không ngừng bác bỏ ý kiến của các nhà chuyên môn (như các chuyên gia về vấn đề Trung Đông, khí hậu, bệnh lý sinh sản). Ngài Bush tuy nhanh nhạy trong việc ghi nhớ những dữ kiện và khía cạnh khác nhau, nhưng tôi không thể nghĩ ra một ai khác mà tôi từng phỏng vấn lại quá thờ ơ với những vấn đề thời sự như thế.

Ít nhất là từ sau chiến dịch tranh cử của Adlai Stevenson năm 1950, sẽ là bất lợi cho nền chính trị nước Mỹ nếu quá đề cao học vấn. Sự minh mẫn bị đánh giá là yếm thế, sự suy nghĩ cẩn trọng bị xem là nhu nhược. Nhà phản biện xã hội William Burroughs từng thẳng thừng tuyên bố rằng “những người trí thức là những kẻ tứ cố vô thân ở nước Mỹ.”

(Điều đó không có nghĩa là những trí thức thì thường đầy ắp ý tưởng. Sau một trong những bài phát biểu hùng hồn của Stevenson, một người ủng hộ gào lên đại để rằng, “Ngài sẽ được bầu bởi mọi người Mỹ biết suy nghĩ!”, và người ta nói Steveson đã trả lời là: “Điều đó chưa đủ đâu. Tôi cần sự ủng hộ của số đông người Mỹ cơ!”)

Tuy nhiên thời cuộc đã thay đổi. Chúng ta giải thích cho cuộc bầu cử năm 2008 thế nào đây về một giáo sư luật được đào tạo từ một trường thuộc Ivy League1, và còn là một người luôn ngưỡng mộ các triết gia và thi sĩ?

Phải thừa nhận là ngài Obama đã tránh được những xét nét về một học vấn ưu việt bởi vì ông là một người da màu. Điều đó làm lãng trí tất cả mọi người, và vì là người da đen ông không nằm trong thiên kiến về việc phải là một học giả tư duy sắc bén ngồi trong tháp ngà. Nhưng điều đó cũng nói lên rằng tổng thống Bush có một sự kém cỏi đến đáng xấu hổ.

Trí thức là người say mê những luồng tư tưởng và không ngại sự phức tạp. Người trí thức đọc những tác phẩm kinh điển, ngay cả khi không ai để mắt tới, bởi họ biết cảm thụ những bài học của Sophocles và Shakespeare khi cho rằng thế giới bị vây quanh bởi những sự bất định, mâu thuẫn và, ngài tổng thống Bush hãy ghé tai nghe tôi nói này, những người lãnh đạo sẽ tự thoái ngôi khi họ trở nên quá cứng nhắc và say sưa trong cơn mê ngủ của sự trong sáng phẩm hạnh.

(Trí thức là người đối diện với thực tế. Ngược lại, kẻ thông thái nửa mùa là một gã hợm mình ưa trích lời của Sophocles và che lấp sự nông cạn của mình bằng những đại ngôn như “rực rỡ” hay “kiêu kỳ”.)

Khác với hầu hết chính trị gia khi đứng trước micro, ngài Obama ưa diễn thuyết phức tạp. Ông không hạ cố hay đơn giản hóa như nhiều chính trị gia thường làm, và ông nói chuyện bằng nhiều trường đoạn hơn là những câu ngắn. Trang web Global Language Monitor, chuyên bám sát những vấn đề ngôn ngữ, thống kê rằng trong cuộc tranh luận trên truyền hình cuối cùng, phần nói chuyện của Obama có độ phức tạp bằng 9, trong khi của John McCain đạt mức 7.

Trước khi Obama nhậm chức, tôi muốn nói rằng những người thông thái sẽ đạt đến vinh quang của quyền lực. Họ không thể ư? Hãy nghĩ về vị hoàng đế La Mã Nero, một trong những nhà thông thái bậc nhất đế chế cổ đại, người giết em mình, mẹ và người vợ đang mang thai; sau đó thiến một gã nô lệ và lấy về làm vợ; và nhiều khả năng là đã đốt thành Rome, rồi thiêu những người Thiên chúa giáo trong những cây đuốc sống để thắp sáng khu vườn của mình.

Tổng thống James Garfield có thể đồng thời viết chữ Hy Lạp bằng một tay và tay kia viết chữ La tinh. Thomas Jefferson là một học giả đáng ngưỡng mộ và còn là nhà phát minh, và John Adams là người luôn mang bên mình một quyển thơ. Nhưng tất cả họ đều không được tôn vinh bằng George Washington, một trong những tổng thống đầu tiên kém trí thông minh nhất.

Tuy nhiên khi ngài Obama trở thành tống thống ở Washington, tôi hy vọng rằng trí tuệ của ông sẽ mang đến một sắc thái mới cho nước Mỹ. Có thể vào một ngày không xa, những vị lãnh đạo của chúng ta sẽ không phải ngượng ngùng rằng họ là những nhà thông thái thật sự.

Nicholas D. Kristof

Dịch từ Op-Ed, The New York Times (9/11/2008)

http://www.nytimes.com/2008/11/09/opinion/09kristof.html?hp

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.