Archive for the ‘Dịch văn nghệ’ Category

Khi Xưa Ta Bé

Nhân ngày sinh Kurt Vonnegut. Bài này dịch từ chương đầu cuốn A Man Without A Country (2005). Bài cũ về Vonnegut ở đây.

*

Khi còn bé tôi là thành viên nhỏ tuổi nhất trong gia đình, và đứa trẻ nhỏ nhất trong gia đình nào cũng luôn là đứa hay bỡn cợt, bởi đùa cợt là cách duy nhất để nó có mặt trong cuộc nói chuyện của người lớn. Chị tôi hơn tôi năm tuổi, anh tôi hơn tôi chín tuổi và ba mẹ tôi đều là những người hay nói . Thế nên khi còn nhỏ xíu, tôi trở nên nhạt nhẽo trước mặt tất thảy người lớn trong bữa tối. Họ chẳng muốn nghe những tin tức trẻ con ngớ ngẩn thường nhật  của tôi. Họ muốn nói về điều thực sự quan trọng xảy ra ở trường cấp ba hoặc có thể là trường đại học, hoặc nơi công sở. Vậy nên cách duy nhất tôi có thể góp mặt vào  một cuộc nói chuyện là nói cái gì đấy thật nhộn. Tôi nghĩ ban đầu tôi chỉ tình cờ làm thế , chỉ là vô ý buông một câu chơi chữ khiến cuộc nói chuyện phải dừng lại, đại khái thế. Và rồi tôi nhận thấy nói đùa cũng là cách để xen vào cuộc nói chuyện của người lớn. Read the rest of this entry »

Chết Đâu Phải Đã Hết

Sau khi nhà văn David Foster Wallace tự sát vào tháng Chín năm ngoái, người đại diện từ lâu của ông là Bonie Nadell đã không biết đường nào mà lần trong mê lộ chữ nghĩa mà ông để lại. Bà phát hiện những bản thảo khác nhau của cuốn tiểu thuyết cuối cùng còn dang dở của Wallace phân tán trong hai chiếc máy tính và những tập giấy được cất rải rác trong gara nơi ngài Foster Wallace từng làm việc ở Claremont, California. Bà không biết là ông muốn lựa bản thảo nào. Cuốn tiểu thuyết này, Wallace viết về I.R.S. [Internal Revenue Service, cơ quan thuế liên bang của chính phủ Mỹ], đang được biên tập lại dựa trên những ghi chép của tác giả để kịp xuất bản vào mùa thu năm sau. “Phần lớn cuốn sách còn đang là dấu hỏi”, Nadell nói về cuốn tiểu thuyết sẽ có tên “Pale King”. Read the rest of this entry »

Ernest Hemingway: Selected letters

Đây là lá thư đầu tiên mà Ernest Hemingway gửi cho Maxwell Perkins (1884-1947), người sau này biên tập những cuốn sách của ông ở Charles Scribner’s Sons kể từ năm 1926. Perkins từng  là người biên tập cho Scott Fitzgerald từ năm 1919 và cũng chính Fitzgerald là người giới thiệu Hemingway cho Perkins. Có thể đọc thêm Max Perkins: Editor of Genius của Scott Berg.

Thư gửi cho Maxwell Perkins, Paris, 15 tháng Tư 1925.

Read the rest of this entry »

The Things They Carried, bản dịch

“The Things They Carried” là tập truyện ngắn của Tim O’Brien về một trung đội lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tập truyện từng được lọt vào vòng chung khảo giải thưởng Pulitzer và giải thưởng National Book Critics Circle của Mỹ, đạt giải thưởng Prix du Meilleur Livre Étranger của Pháp. Tập truyện được công nhận rộng rãi là tác phẩm văn học quan trọng nhất về chiến tranh Việt Nam. Read the rest of this entry »

Thủy Nguyệt

Yasunari Kawabata là cây bút truyện ngắn và tiểu thuyết gia nổi tiếng người Nhật. Ông là nhà văn Nhật đầu tiên nhận giải Nobel văn chương (vào năm 1968).   Truyện ông mang giọng văn trữ tình, thi vị nhưng cũng đầy sâu sắc. Truyện ngắn Thủy Nguyệt (hay Trăng Trên Mặt Nước, The Moon In The Water) đã được giới thiệu trong sách giáo khoa văn học phổ thông. Dejavous xin giới thiệu một bản dịch khác của tác phẩm này:

Thủy Nguyệt

Yasunari Kawabata Read the rest of this entry »

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.3]

Phần 2

Priam trong truyện của Malouf đã bỏ qua những điềm báo ấy. Ông đáng nhận một sự mạo hiểm, và ông đã vượt qua được, bởi thứ ông nhận được không phải là điều khiếp sợ mà Hecuba đã cảnh báo mà là thứ quyền lực đạo đức mới, đưa con người trở về mặt đất, che mắt họ lại và cả cản trở cơn giận dữ giết chóc của Achilles. Thỏa hiệp là bản chất của con người, và đi cùng với nó là cảm giác của chúng ta về tính có thể hoán đổi. Achilles trong phim của Petersen, trong khoảnh khắc thống thiết nhất của bộ phim, nức nở trước thây của Hector và gọi Hector là “người anh em” bởi biết rằng họ sẽ sớm gặp nhau ở thế giới bên kia. Achilles trong tuyện của Malouf thì yếu đuối vì một lý do khác. Chàng nhầm Priam với Peleus, người cha đã mất, và gục xuống đầu gối của ông ta mà khóc. “Hãy bước bằng sự cẩn trọng”, chàng không thể tiếp tục cư xử phi nhân tính. Read the rest of this entry »

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.2]

Phần 1

Homer, cũng như Shakespeare, sẽ luôn luôn là đề tài đương đại, nhưng liệu họ có là người đồng xứ với chúng ta [những người Úc]? Nhà thơ Peter Porter đã có lúc gắn nước Úc với Hy Lạp cổ đại trong một bài thơ nói lên suy nghĩ của ông khi đọc trường ca Hy Lạp Works and Days của Hesiod – vừa là sách hướng nông vừa là sách vỡ lòng của việc chế tác thơ – mà ông mua được ở một hội làng ở nước Anh. Cuốn sách cổ, dịch bởi George Chapman, với phần kể về Homer giới thiệu Keats đến “vương quốc vàng ròng”, khiến Porter cho rằng “dân Úc cũng như dân Boeotia [quê mùa, lạc hậu]”, tuýp nông dân nhàm chán, cứng đầu. Sự so sánh đó thật ra là một sự sỉ nhục đầy thực dân tính: những thị dân Athens khinh miệt những địa phận khác, coi Boeotia như vùng quê mùa thất học, vì vậy câu của Porter [một nhà thơ Anh gốc Úc] cho ta hiểu theo cách mà người Anh từng một thời đỏng đảnh tỏ ra khó chịu với người Úc. Còn Norman Lindsay lại muốn nhìn người Úc như những người Hy Lạp, những tín đồ pagan giáo [giáo phái tiền Thiên Chúa ở châu Âu] phóng đãng hạnh phúc, nhưng sẽ chính xác hơn và hợp thời điểm hơn nếu nói chúng ta [những người Úc] là những công dân thành Troy, những nạn nhân bị cào bằng của một cuộc chinh phạt, không phải về quân sự, mà là văn hóa. Read the rest of this entry »

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy

Về Iliad của Homer và Ransom của David Malouf

Định đề ở đây cũng đơn giản như trong câu đầu tiên chương Genesis của Kinh thánh [First God made heaven and earth], và còn khả tin hơn: từ thuở sơ khai, Homer đã sáng tạo ra văn chương. Ông đã làm việc đó, tức là nếu chỉ có một mình, với hai chiều phóng chiếu, hai thi phẩm nhìn về những tương lai văn chương khác nhau. The Iliad là bản anh hùng ca ban sơ của nhân loại, ngợi ca sự chiến đấu anh dũng và sự vẻ vang của trận đánh. The Odyssey bắt đầu khi trận chiến thành Troy đã kết thúc và kể về những hiểm nguy sau đó, đồng hành với nhân vật chính trong cuộc hành trình về quê hương, gợi ra một lựa chọn khác cho thể loại lãng mạn, kiểu không cần phải ngưng truyện khi nhân vật chết như hay thấy trong anh hùng ca mà mở ra trước biến cố và việc du hành, cho phép sự thám hiểm không giới hạn. Bởi vậy, những người viết sau này đã dành những dòng footnote về Homer, dù là tóm lược đầy ngờ vực cuộc chiến thành Troy như một vở kịch phóng đãng, như Shakespeare trong Troilus and Cressida, hay ngốn cả chuyến đi khắp Địa Trung Hải dài hàng mười năm của Odysseus vào chỉ một ngày ở Dublin, như Joyce đã làm với Ulysses. Read the rest of this entry »

The 10 Best Books of 2008 (NYTimes)

The 10 Best Books of 2008

The 10 Best Books of 2008

Tháng 12 năm ngoái, ban biên tập mục điểm sách của tờ New York Times đã chọn ra 10 cuốn sách hay nhất năm 2008 từ danh sách 100 cuốn đáng đọc nhất trong năm cũng do tờ báo này bình chọn một tuần trước đó. Read the rest of this entry »

JG Ballard, Tác Giả Của Crash, Qua Đời Ở Tuổi 78

Tiểu thuyết gia JG Ballard, người khơi gợi một cái nhìn ảm đạm về đời sống hiện đại với một chuỗi tiểu thuyết và truyện ngắn đầy uy lực hơn 50 năm về trước, đã qua đời sau thời gian dài vật lộn với bệnh ung thư.

Đại diện của nhà văn, Margaret Hanbury, vào tối ngày 20/4 đã báo “với lòng đau buồn sâu sắc” rằng tác giả 78 tuổi này đã ra đi sáng ngày 19/4 sau nhiều năm lâm trọng bệnh.

Hanbury, người làm việc với Ballard hơn 25 năm, nói rằng ông là một tiểu thuyết gia “thông thái, dồi dào bút lực”. “JG Ballard đã trở thành cây đại thụ của văn chương thế giới trong hơn 50 năm. Tiếp theo những cuốn tiểu thuyết đầu tay của những năm 60, 70, tác phẩm của ông đã nhận được lượng độc giả đông đảo hơn với việc xuất bản Empire of the Sun năm 1984, cuốn sách nhận được một số giải thưởng và được đại diễn Steven Spielberg chuyển thể thành phim.”

“Sự quan sát sắc bén và sâu rộng của ông về cuộc sống đương đại được chắt lọc trong những cuốn tiểu thuyết thông thái, đầy uy lực, những cuốn sách đã được xuất bản khắp thế giới và đánh dấu vị trí tôn kính mà Ballard đạt được.”

Cảm hứng từ những tạp chí science fiction quen thuộc mà ông bắt gặp khi ở Canada trong thời gian phục vụ cho RAF (Không quân hoàng gia Anh – ND), Ballard bắt đầu xuất bản những truyện ngắn gợi lên những khung cảnh đổ nát tràn ngập những máy móc hư hỏng, những bãi biển hoang vắng và tòa nhà bỏ hoang.

Những cuốn tiểu thuyết về thảm họa và sự thử nghiệm, gồm The Drowned World (1962) và Crash (1973), sau đó được chuyển thể thành phim bởi David Cronenberg, mang lại cho ông tiếng tăm đang vang lên của một ngòi bút tiên phong mang tư tưởng chống-thiết lập. Crash, ở đó một cặp đôi nam nữ bị kích dục qua [việc tham gia - ND] những vụ đụng xe hơi, được viết khi người ta xây dựng nới rộng một xa lộ băng qua cuối con đường nhà ông ở Shepperton, phía Tây London.

Năm 1984, Ballard được công chúng thừa nhận ở một vị thế mới với Empire of the Sun, một cách tiểu thuyết hóa hiện thực không e dè về khoảng thời gian bị giam giữ khi còn là thiếu niên trong một trại của lính Nhật dành cho dân thường ở Thượng Hải.

Ông mất 40 năm tự mình chuẩn bị đế có thể viết về khoảng thời gian trưởng thành của đời mình – “20 năm để quên, và 20 năm nữa để nhớ,” như ông miêu tả sau này. Cuốn tiểu thuyết viết về một chàng trai trẻ người Anh, cũng như nhiều nhân vật dẫn chuyện khác của Ballard, mang tên giống ông (Jim là tên thân mật của James – ND), trải qua cuộc chiếm đóng của quân Nhật ở Thượng Hải. Sống tách rời với cha mẹ, ban đầu Jim sống sót bằng những bịch thứ ăn bỏ đi trong ngôi biệt thự để trống của cơ quan tái thiết quốc tế, trước khi bị tóm bởi một lính Nhật và bị giam trong Trung tâm tập hợp thường dân Long Hoa, nơi nó tận hưởng cái tự do quái đản giữa cái đói, bệnh tật và cái chết.

Ballard nói về tuổi thơ của ông: “Tôi có những kí ức – Tôi không nói là hạnh phúc – không cay đắng về thời gian ở trại. Tôi nhớ nhiều cảnh hung bạo và trừng phạt thỉnh thoảng vẫn xảy ra, trong lúc mà bọn trẻ chúng tôi đang vui đùa với hàng tá trò chơi, bất kể lúc nào!”

Sinh năm 1930 tại Thượng Hải, Ballard đến Anh với ba mẹ sau chiến tranh, nơi ông học nội trú tại trường Leys ở Cambridge; bước chân, như ông miêu tả, “ra khỏi một ngôi trường, để vào một trường khác.” Sau khi học y khoa tại Cambridge, nơi ông dè bỉu là một “công viên mang dáng dấp học thuật”, ông học Ngữ văn Anh tại University of London, trước khi bước vào chuỗi công việc và viết truyện ngắn vào thời gian rảnh rỗi.

Truyện được xuất bản đầu tiên của ông, một ngụ ngôn về loài cây biết hát tên là Prima Belladonna, xuất hiện trên tạp chí Science Fantasy năm 1954. Cũng trong năm đó cuộc triển lãm ở phòng trưng bày Whitechapel đánh dấu sự ra đời của pop art. Từ cuộc triển lãm này và những tác phẩm của những nhà siêu thực như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali và Paul Delvaux ông tìm được cảm hứng cho cái sau này ông gọi là “hư cấu của ngày hôm nay”.

Cây bút science fiction (tức Ballard – ND) trẻ tuổi “không mấy hứng thú với đề tài về tương lai xa xôi, phi thuyền và những thứ đại loại thế”, ông giải thích, mà hứng thú với “một thế giới đang tiến hóa, thế giới của những điều đáng tin nhưng ta không cảm nhận được, của sự phát triển quan cảnh truyền thông, của du lịch đại chúng, của những ngoại ô chuẩn tắc rộng lớn bị thống trị bởi truyền hình – đó là một dạng của science fiction, và giờ đây nó vốn đã như vậy”.

Sự qua đời đột ngột của vợ ông, Mary, trong kì nghỉ năm 1964 để mình ông gà trống nuôi con với ba đứa trẻ, nhưng cuộc sống bên gia đình ở Shepperton khiến trí tưởng tượng của Ballard mặc sức nảy nở, khi tác phẩm của ông chuyển sang thứ chủ nghĩa hiện thực chiêm nghiệm vô định được ra đời vào những năm 1960 ở Anh quốc.

Những tác phẩm sau này của ông tiếp tục hướng cuộc sống hiện đại đến những thái cực của riêng nó, với một xã hội dystopia hung hãn trong Supper Cannes (2000), cuộc cách mạng của tầng lớp trung lưu trong Millennium People (2003), và sự chuyển hướng xuống chủ nghĩa phát xít vị lợi tiêu dùng (consumerist facism) trong Kindom Come (2006). Nhưng cái mác nhà văn science fiction vẫn còn đó, khiến Ballard rất khó chịu, một phần như là cách để “xoa dịu đi hiểm họa” (mà tác phẩm của Ballard nói đến – ND). “Bằng cách gọi tiểu thuyết như Crash là science fiction, bạn đã cách ly cuốn sách và bạn không cần biết nó viết gì”, ông giải thích.

Ông tự cô lập mình với giới văn chương thế giới, và từ chối nhận tước hiệu CBE (Commander of the British Empire, sĩ quan đế chế Anh – ND) năm 2003, bảy tỏ sự khinh miệt với hệ thống phẩm tước, coi nó như một “Kiểu thậm xưng đầy chất ruritanian (một quốc gia hư cấu trong tiểu thuyết của Anthony Hope – ND) nhằm bợ đỡ nền quân chủ cồng kềnh của chúng ta”.

Ông sống sót trong bạo bệnh là nhờ người bạn đời Claire Walsh và ba người con James, Fay và Beatrice.

Dịch từ The Guardian

Archives