Dự án Ngõ vòm (1)

[Dịch từ bản tiếng Anh The Arcades Project, Howard Eiland và Kevin McLaughlin dịch từ bản tiếng Đức Das Passagen-Werk, tập 5 trong bộ Gesammelte Schriften [Tuyển tập bản thảo] của Walter Benjamin. Các đoạn in đậm là trích dẫn, in thường là lời bình của Benjamin, trong móc nhọn là đề tài.]

A

[Arcades [Những ngõ vòm], Magasins de Nouveautés, Sales Clerks]

Những trụ cột ma thuật của các cung điện ấy

Cho kẻ tay mơ thấy được từ mọi phía,

Trong những đồ vật mà các hàng hiên để lộ,

Rằng công nghiệp là tình địch của nghệ thuật.

-          “Chanson nouvelle”, trích trong Nouveaux Tableaux de Paris, ou Observations sur les moeurs et usages des Parisiens au commencement du XIXe siècle [Những bức tranh mới về Paris, hay là các quan sát về phong và tục của người Paris đầu thế kỷ 19] (Paris, 1828), quyển 1, tr. 27

Bán những thân xác, những tiếng nói, sự giàu có vô biên không cần bàn xét, bán cái mà người ta sẽ chẳng bao giờ bán.[i]

-          Rimbaud

 “Khi nói về các đại lộ nội vi,” theo Illustrated Guide to Paris, một bức tranh toàn cảnh về thành phố bên dòng sông Seine và những vùng lân cận của nó từ thời năm 1852, “chúng ta đã lần đi lần lại nhắc đến những ngõ vòm thông đến chúng. Những ngõ vòm này, một phát minh mới của tính xa hoa công nghiệp, là các hành lang mái ốp kính, chia ô đá hoa, kéo dài qua những khối nhà mà các chủ nhân của chúng hiệp đồng chia sẻ các hành lang ấy. Nằm dọc hai bên hành lang, nhận ánh sáng từ bên trên chiếu xuống, là các cửa hiệu thanh lịch nhất, tuồng như ngõ vòm là một thành phố, một thế giới trong bức tiểu họa {Người dạo phố}, mà ở đó khách hàng sẽ tìm thấy mọi thứ họ cần. Khi trời đổ cơn mưa rào bất chợt, những ngõ vòm trở thành nơi trú ngụ cho những ai không chuẩn bị trước, đem đến cho họ cuộc tản bộ bình yên, dù là hạn hẹp – một điều cũng giúp những người bán hàng hưởng lợi.” {Thời tiết}

Trên đây là đoạn cốt yếu nhằm giới thiệu những ngõ vòm; mà đã nói về những ngõ vòm, thì không chỉ những chuyện lan man về khách dạo phố hay tiết trời, mà ngay cả chuyện xây dựng ngõ vòm, ở trong một mạch kinh tế và kiến trúc, cũng cần được nhắc đến. [A1,1]

Tên của các magasin de nouveautés [cửa hiệu bán đồ mốt]: La Fille d’Honneur, La Vestale, Le Page Inconstant, Le Masque de Fer, Le Petit Chaperon Rouge, Petite Nanette, La Chamière allemande, Au Mamelouk, Le Coin de la Rue[ii] – những tên hầu hết bắt nguồn từ các vở khinh kịch [vaudeville]. {Thần thoại học} Cửa hiệu găng tay: Au Ci-Devant Jeune Homme. Cửa hiệu mứt kẹo: Aux Armes de Werther.

“Tên của người bán kim hoàn xuất hiện bên trên cánh cửa của cửa hiệu bằng các chữ cái lớn được chạm – được chạm từ đá giả ngọc tinh tế.” Eduard Kroloff, Schiderungen aus Paris (Hamburg, 1839), quyển 2, tr. 73. “Ở Galerie Véro-Dodat, có một hiệu tạp hóa; bên trên cánh cửa của nó, người ta đọc được dòng chữ: “Gastronomie Cosmopolite” [Tứ hải sành ăn]. Từng ký tự riêng rẽ của biển hiệu được làm, theo lối comic, từ  những con chim dẽ giun, gà lôi, thỏ rừng, gạc hươu, tôm hùm, cá, cật chim, v.v.” Kroloff, Schilderungen aus Paris, quyển 2, tr. 75. {Grandville[iii]} [A1,2]

Khi việc kinh doanh phát đạt, người chủ sẽ mua hàng trữ cho một tuần, và để có chỗ chứa hàng, họ sẽ thu vén gác xép. Bằng cách ấy, boutique trở thành một magasin.

Đó là thời mà Balzac có thể viết: “Nhà thơ lớn nổi danh ngâm những khúc stanza đầy sắc màu từ Nhà thờ Madeleine cho đến Porte Saint-Denis.” Le Diable à Paris (Paris, 1846), quyển 2, tr. 91 (Balzac, “Những đại lộ ở Paris”). [A1,4]

“Vào ngày cái từ đặc sản [specialty] được phát minh bởi Nữ hoàng Lãnh thương, hoàng hậu của nước Pháp và các vùng lân cận: người ta nói rằng ngày đó, Mercury, vị thần đặc trách về buôn bán và các đặc sản xã hội khác, cầm phù hiệu của mình gõ ba lần trước cửa Sở Chứng khoán và thề trước bộ râu của Proserpine rằng ông hài lòng với cái từ đó.” {Thần thoại học} Tuy vậy, từ này ban đầu được dùng chỉ để chỉ các vật phẩm xa xỉ. La Grande Ville: Nouveau Tableau de Paris [Thành phố lớn: Bức tranh mới về Paris] (Paris, 1844), quyển 2, tr. 57 (Marc Fournier, “Các đặc sản của người Paris”). [A1,5]

Những con đường hẹp xung quanh Opéra và những mối nguy mà người đi bộ gặp phải khi bước ra từ nhà hát ấy, luôn bị vây xung quanh bởi cơ man là xe ngựa, đem đến cho một nhóm các nhà đầu cơ năm 1821 ý tưởng dùng một số khối cấu trúc để phân tách nhà hát mới với đại lộ. / Việc làm này, vốn mang lại giàu có cho những người khơi ra ý tưởng, cũng cùng lúc mang lại lợi ích to lớn cho công chúng. / Bằng một ngõ vòm bằng gỗ, nhỏ, hẹp, ốp mái, người ta thực sự có thể đi trực tiếp, với sự yên tâm tuyệt đối trên hành lang của Opéra [về tiết mục này, nên xem phim Sherlock Holmes: A Game of Shadows (2011) :ppp - ND], tới các phòng trưng bày và từ đó trở ra đại lộ… Bên trên mũ cột của trụ bổ tường kiểu Doric phân chia các cửa hiệu, là hai tầng căn hộ, và bên trên các căn hộ – dọc theo chiều dài của các phòng trưng bày – là một mái ô kính khổng lồ bao trùm.” J. A. Dulaure, Histoire physique, civile et morale de Paris depuis 1821 jusqu’à nos jours [Lịch sử thực tế, dân sự và đạo đức của Paris từ năm 1821 đến thời chúng ta] (Paris, 1835), quyển 2, tr. 28-29. [A1,6]

Cho đến năm 1870, xe ngựa là phương tiện chủ đạo trên đường phố. Người đi bộ đến là khổ trên các vỉa hè chật chội, và thế là họ chủ yếu tản bộ trong những ngõ vòm, nơi che chắn cho họ khỏi thời tiết xấu và giao thông ngoài đường. “Những đường phố lớn và vỉa hè rộng rãi của chúng ta thích hợp cho cuộc bát phố ngọt ngào, cũng như vào thời ông già của chúng ta thì chỉ có những ngõ vòm mà thôi.” {Người bát phố} Edmond Beaurepaire, Paris d’hier et d’aujourd’hui: La Chronique des rues [Paris hôm wa và hôm nay: Biên niên sử đường phố] (Paris, 1900), tr. 67. [A1a,1]

Tên các ngõ vòm: Ngõ Panoramas, Ngõ Véro-Dodat, Ngõ Désir (hồi xưa dẫn đến một ngôi nhà tai tiếng), Ngõ Colbert, Ngõ Vivienne, Ngõ Pont-Neuf, Ngõ Caire, Ngõ Réunion, Ngõ Opéra, Ngõ Trinité, Ngõ Cheval-Blanc, Ngõ Pressière [Bessières chăng?], Ngõ Bois de Boulogne, Ngõ Grosse-Tête. (Ngõ Panoramas ban đầu có tên là Ngõ Mirès.) [A1a,2]

Ngõ Véro-Dodat (được xây giữa Rue de Bouloy và Rue Grenelle-Saint-Honoré) “được đặt theo tên của hai người bán thịt heo giàu có, quý ông Véro và Dodat, năm 1823 hai người cùng thực hiện việc xây dựng ngõ vòm và những tòa nhà ngay sát – một sự phát triển kỳ tích. Điều này gợi hứng cho một người ở thời đó mô tả ngõ vòm này như một “công trình nghệ thuật đáng yêu được dựng lên bởi hai người hàng xóm””. J. A. Dulaure, Histoire physique, civile et morale de Paris depuis 1821 jusqu’à nos jours (Paris, 1835), quyển 2, tr. 34. [A1a, 3]

Ngõ Véro-Dodat có nền đá hoa. Nữ diễn viên Rachel đã sống ở đây một thời. [A1a,4]

Số nhà 26, Galerie Colbert: “Ở đó, trong lốt một phụ nữ làm găng tay, ánh lên một vẻ đẹp có thể tiếp cận, nhưng trong sự trẻ trung, vẻ đẹp ấy chỉ mang tầm quan trọng tự thân; cô ấy đòi những người yêu thích mình chu cấp cho cô quần áo đẹp để cô hy vọng kiếm được gia tài nhờ nó… Người phụ nữ trẻ trung và xinh đẹp dưới lớp kính có tên “Tuyệt đối”; nhưng triết học hẳn là hoài phí thời gian đeo đuổi cô. Hầu gái của cô mới là người bán những chiếc găng tay; cô ấy muốn như thế.” {Búp bê} {Gái bán hoa} [Charles] Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris [Những ngôi nhà cổ ở Paris], quyển 4 (Paris, 1875), tr. 70. [A1a,5]

Cour du Commerce: “Tại đây những thử nghiệm đầu tiên (dùng lông cừu) đã được tiến hành với máy xén giấy; người phát minh ra nó thời đó sống ở Cour de Commerce và Rue de l’Anciene-Comédie.” Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris, quyển 4, tr. 148. [A1a,6]

“Ngõ Caire, nơi nghề kinh doanh chính là in thạch bản, hẳn đã trang hoàng đèn đóm khi Napoleon đệ Tam bãi bỏ thuế tem cho các thông cáo thương mại; sự giải phóng này làm cho ngõ vòm giàu có hơn, và cho thấy nhận thức rõ hơn về các khoản chi tiêu cho sự đẹp-đẽ-hóa. Còn thì trước đó, mỗi lần trời mưa là người ta phải dùng ô chống dột trong các phòng trưng bày, bởi có vài chỗ thiếu kính chắn.” Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris, quyển 2, tr. 233. {Những ngôi nhà mơ ước} {Thời tiết} (trang trí kiểu Ai Cập). [A1a,7]

(còn tiếp)


[i] Trích bài Solde trong tập Les Illuminations. Nguyên tác: A vendre les corps, les voix, immense opulence inquestionable, ce qu’on ne vendra jamais. Câu trước đó là “Bán cái đà tiến rồ dại và không hồi kết, mang theo những huy hoàng vô hình [spendeurs invisibles], những khoái lạc không cảm thấy [délices insensibles]…” , thể hiện nỗi khao khát với những “huy hoàng vô hình” và “khoái lạc không cảm thấy” mà người mua hằng mong ước, tương tự như các “cung điện” với những “trụ cột” ở đề từ thứ nhất, một bài ca dao thời Napoleon. Đây là cái nhìn ghen tức của một người khi thấy mọi thứ kể cả những thân xác và tiếng nói bị rao bán trong nền văn hóa tiêu dùng mới xuất hiện ở thế kỷ 19. Marjorie Perloff (trong Unoriginal Genius) cho rằng hai đề từ là sự trang bị để sau đó giúp chúng ta thấy sự mâu thuẫn giữa tính xa hoa và ảo cảnh [phantasmagoria] – Benjamin sẽ còn nhắc nhiều đến từ này – của các magasin de nouveatés. (Các chú thích ca ND)

[ii] Ở danh sách này có sự mỉa mai: Cung nữ (fille còn ám chỉ một gái đường phố hay gái bán hoa), Trinh nữ Vestal (Trinh nữ gác ngọn lửa trong điện Vesta. Ở đây ý nói người con gái nền nếp, mẫu mực), Trang sách đổi thay (vở balê-kịch câm ba hồi của Jean Dauberval), Mặt nạ sắt (Một người tù bí ẩn, luôn che mặt bằng vải đen, dưới triều vua Louis XIV. Người này bị giam 40 năm ở các nhà tù khác nhau cho đến lúc chết ở Bastille năm 1703. Một vài giả thiết cho rằng người này là anh em của Louis XIV), Cô bé quàng khăn đỏ, Nàng Nanette (kịch opera của Louis Abel Beffroy), Nhà tranh Đức (kịch mélo ba hồi của MM. E. Rouseau), Đội quân nô lệ Ottoman, Góc phố. Tiếp tục là tên của hiệu bán găng: Chàng trai trẻ trước đây; và hiệu bán mứt: Những khẩu súng lục của [chàng trai trẻ thất tình tự tử] Werther.

[iii] J.J. Grandville, bút danh của Jean Ignace Isidore Gérard (1803-1847): nhà vẽ biếm họa người Pháp. Theo nhận xét của Benjamin, các huyễn tưởng trên tranh thạch bản của Grandville đem lại cho vũ trụ “một đặc tính hàng hóa [commodity character]”.

Tại sao đọc tác phẩm cổ điển?

Bài này đã đăng trong Nội san Sách xưa số 1, xuân Nhâm Thìn. Bản lần này có sửa nhiều chỗ. Nói chung là, tôi không cảm thấy phiền hà việc sửa đi sửa lại bản dịch của mình, dù đã từng đăng bản giấy hay chưa, vì tôi biết rằng một người kỹ tính và chọn lựa từng từ như Italo Calvino hẳn cũng phải đọc đi đọc lại nhiều lần từng tiểu luận của mình, còn dịch giả tuy không cần phải tàng hình nhưng cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé và đơn độc.

-=-=-=-=-=

Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách thử đưa ra vài định nghĩa.

(1)   Tác phẩm cổ điển là những cuốn sách chúng ta luôn nghe người ta nói, “Tôi đang đọc lại…” chứ không bao giờ “Tôi đang đọc…”

Ít nhất điều này cũng xảy ra trong giới tự coi mình là “đọc nhiều.” Nó không đúng lắm với những người trẻ ở độ tuổi giáp mặt thế giới lần đầu, và những thứ cổ điển là một phần của thế giới đó. Continue reading

Làm sao để nhận ra một phim heo

Tôi không biết bạn có bao giờ nhận ra mình xem một phim con heo hay chưa. Tôi không nói đến những phim có cảnh tình ái, như Last Tango in Paris chẳng hạn, dù tôi nhận ra, rằng với nhiều người như thế có thể đã là chướng rồi. Không, thứ tôi muốn nói đến là phim con lợn chính cống, với mục đích độc nhất và trung thành là kích thích dục vọng của khán giả, từ đầu chí cuối, và theo một cách mà, trong khi dục vọng này được kích thích bởi những cảnh giao hợp đủ trò biến hóa, phần còn lại câu chuyện lại chẳng có chút giá trị nào.

Các phán quan thường được yêu cầu phân xử xem một phim có phải thuần túy con heo, hay có giá trị nghệ thuật gì hay không. Tôi không phải một trong những người khăng khăng rằng giá trị nghệ thuật có thể bù đắp cho mọi thứ; thỉnh thoảng các tác phẩm nghệ thuật đích thực còn nguy hiểm với đức tin, với hành vi, với quan điểm hiện tại hơn cả các tác phẩm ít giá trị hơn. Nhưng tôi tin rằng những người thành niên có quyền tiêu thụ văn hóa phẩm con heo, ít nhất để còn muốn cái gì khác cao hơn. Tuy vậy, tôi nhận ra rằng thỉnh thoảng một quan tòa buộc phải quyết định xem một phim được sản xuất ra nhằm bày tỏ các khái niệm hay lý tưởng thẩm mỹ nào đó (kể cả qua những cảnh vi phạm cái nhìn đạo đức đã được chấp nhận), hay nhằm mục đích độc nhất là đánh thức bản năng của khán giả.

Vầng, có một tiêu chuẩn để quyết định xem một phim có phải con heo hay không, và nó dựa trên sự tính toán về thời gian bị lãng phí. Stagecoach, một siêu phẩm đại chúng vĩ đại, được quay toàn bộ trên độc một chiếc stagecoach [xe ngựa] (ngoại trừ đoạn mở đầu, vài quãng ngắn và đoạn kết thúc). Nhưng nếu không có chuyến đi này thì bộ phim sẽ không có ý nghĩa gì hết. L’avventura của Antonioni thì chỉ độc có thời gian phung phí: người ta đến rồi đi, nói chuyện, thất lạc rồi được tìm lại, mà chẳng có gì xảy ra cả. Chỗ thời gian phung phí này có thể hấp dẫn hoặc không, nhưng bộ phim thì đích thị nói về nó.

Ngược lại, một phim con heo, để biện hộ cho chi phí một tấm vé hay việc mua một máy cát-sét, bảo chúng ta rằng có những ai đó cặp với nhau về mặt tình dục, nam với nữ, nam với nam, nữ với nữ, nữ với chó hay ngựa đực (Tôi có thể chỉ ra rằng chẳng có phim heo nào mà nam cặp với ngựa cái hay chó cái: sao lại không nhỉ?). Và điều này vẫn sẽ ổn thôi: nhưng nó chỉ toàn là thời gian phung phí.

Nếu Gilbert, để hiếp Gilbertina, phải đi từ Lincoln Center đến Sheridan Square, thì bộ phim cho bạn thấy Gibert ngồi ở trong xe anh ta suốt cuộc hành trình, đi hết đèn đỏ này đến đèn đỏ khác.

Phim con heo chỉ toàn những người leo vào trong xe và lái mút chỉ, các cặp phí phạm biết bao nhiêu thời gian để ghi tên tại các quầy khách sạn, những quý ông phải tốn nhiều phút trong thang máy mới đến được phòng của họ, các cô gái tọng các loại thức uống khác nhau và mân mê không biết chán những dây chuyền và áo blu trước khi thú nhận với nhau rằng họ thích Sappho hơn Don Juan. Nói một cách đơn giản và sống sượng, trong phim heo, trước khi bạn có thể thấy một con ngựa khỏe mạnh bạn phải kiên nhẫn chịu đựng một phim tài liệu có thể được tài trợ bởi Cục Giao thông.

Có các lý do thấy rõ. Một bộ phim mà Gilbert chỉ có nhõn việc hiếp Gilbertina, hết trước ra sau rồi úp thìa, thì quả là không thể chịu đựng được. Về mặt thể phách với các diễn viên, và mặt kinh tế với nhà sản xuất. Và cũng không thể chịu đựng được đối với khán giả về mặt tâm lý: để sự quá lố có tác dụng, người ta phải thực hiện nó trên một phông nền của cái bình thường. Mô tả cái bình thường là một trong những thứ khó nhất đối với bất cứ nghệ sĩ nào, chứ còn phác họa sự lệch lạc, phạm tội, hãm hiếp, tra tấn, thì dễ quá.

Bởi vậy phim con heo buộc phải cho thấy cái bình thường theo cách mọi khán giả đều mường tượng được – nhất định như thế nếu sự quá lố là để gây hứng thú. Bởi vậy, nếu Gilbert phải bắt xe buýt và đi từ A đến B, chúng ta sẽ thấy Gilbert bắt xe buýt, rồi xe buýt khởi hành từ A đến B.

Điều này thường chọc tức khán giả, bởi họ nghĩ rằng họ thích những cảnh không thể diễn tả tiếp tục cơ. Nhưng đây là một ảo tưởng về phía họ. Họ không chịu được cả một tiếng rưỡi toàn những cảnh không thể diễn tả đâu. Nên các đoạn phung phí thời gian lại là cần thiết.

Tôi nhắc lại nhé. Hãy đi vào một rạp phim. Nếu để đi từ A đến B, các nhân vật phải đi lâu hơn thông thường bạn sẽ, thì bộ phim bạn đang xem chính là phim con heo.

1989

Dịch từ How to Travel with a Salmon & Other Essays (Umberto Eco)

Thực vật học dành cho họa sĩ

394.
Tất cả cành của một cây vào bất cứ giai đoạn tăng trưởng nào, gộp lại sẽ có độ dày bằng với thân cây [bên dưới chúng].
Tất cả nhánh của một dòng nước vào bất cứ lúc nào, nếu cùng tốc độ chảy, gộp lại sẽ có bề rộng bằng với dòng chính.
// (pặc pặc tức là ghi chú của tớ): chữ quan trọng là “bên dưới chúng” có trong bản tiếng Anh nhưng không có trong bản gốc tiếng Ý, nên có thể hiểu dịch giả tiếng Anh ám chỉ rằng ở đây không nhất thiết là thân cây, mà có thể là các nhánh trên một cành so với thân cành.

399.
Cây ít rẽ nhánh nhất là cây thẳng nhất.
// bản tiếng Anh rất trung thành với bản gốc về cấu trúc và độ dài câu, còn câu này chỉ dài bằng 1/3 câu gốc. Bỗng nhớ ra một câu khác trong phần tỉ lệ cơ thể, nói là chiều cao một người nằm xuống bằng 1/9 chiều cao khi người đó đứng.

400.
Trục đối xứng của các cành rẽ nhánh đi qua trục đối xứng của thân cây.

403.
Những cây vốn sum sê, có các góc rẽ nhánh càng lớn theo tỉ lệ nếu gốc chạc càng thấp, tức là gần với chỗ dày nhất và già nhất của cây hơn. Thế nên ở những phần non nhất của cây, góc rẽ nhánh nhọn hơn.
// Có hai điểm lưu ý. Một là “theo tỉ lệ”. Hai là điều này có thể đúng trong không gian, tức là thay góc phẳng bằng góc tam diện, như chạc bốn chẳng hạn.

407.
Các cành ở thấp nhất sau khi rẽ nhánh khỏi cành mẹ, luôn chúi xuống để không làm vướng các cành khác rẽ nhánh sau chúng trên cùng cành mẹ đó, và cũng để hấp thụ không khí dễ dàng hơn.

409.
Nói chúng các cành chĩa lên đều có xu hướng quay về phía Nam; và các cành quay về hướng Nam dài hơn, to hơn và sum sê hơn các cành hướng Bắc. Đấy là bởi mặt trời hút nhựa cây về phía nó.
Và điều này chỉ nhận thấy được khi mặt trời không bị các cây khác che khuất.

411.
Cành của cây óc chó chỉ bị va chạm và gãy khi nó đạt đến độ hoàn hảo…

Dịch từ The Notebooks of Leonardo Da Vinci, Vol.1, Dover Publications.

Người vô danh để bất tử hai lần

Hay Schlage và ván cờ kinh điển trong 2001: A Space Odyssey

Khi Stanley Kubrick mất vào 7 tháng 3 năm 1999, giới kỳ thủ và các bản tin làng cờ, tất nhiên, đều bàn tán về mối quan tâm của ông đến cờ vua. Ông từng là một kỳ thủ có hạng hồi còn trẻ, chơi độ ở Washington Square Park ở New York, nơi ông sinh ra, và đã đưa cờ vua vào những bộ phim của mình [Lolita chẳng hạn]. Nhưng đặc biệt là sự bàn tán về cờ vua trong bộ phim nổi tiếng của ông 2001: A Space Odyssey (1968). Đầu phim, một nhân vật thoáng qua tên là Dr. Smyslov, sau này là Frank Poole, một trong những phi hành gia trên chiếc phi thuyền, chơi cờ với máy tính HAL. Mở đầu, Poole, chơi quân trắng, bảo (trong khi HAL nói tự động): “Chà, hậu ăn tốt rồi.” Ván cờ tiếp tục: (1.Qxa6) Bxg2 2.Re1 và HAL nói: “Xin lỗi nha Frank, em nghĩ anh thua òy. Hậu ba bước đến tượng (bước đi nhấp nháy trên bảng), tượng đập hậu, mã đập tượng, chiếu tướng.” Continue reading

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.